Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 152/2024/DS-PT

Ngày 11 tháng 7 năm 2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chuyền
  • Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang, bà Nguyễn Thị Hương Giang
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 23/2024/TLPT- DS ngày 06 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do Bản án dân sự sơ thẩm số 63/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Việt Yên (nay là Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên) bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 70/2024/QĐ-PT ngày 26/02/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 101/2024/QĐ-PT ngày 21/3/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 88/2024/QĐ-PT ngày 11/6/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Trần Trọng H, sinh năm 1963. Địa chỉ: Xóm T, tổ dân phố S, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)
  • - Bị đơn: Ông Trần Hữu Ư (đã chết ngày 20/4/2020)

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Hữu Ư:

  1. Ông Trần Hữu L, sinh năm 1964
  2. Ông Trần Hữu C, sinh năm 1967
  3. Bà Trần Thị N, sinh năm 1970
  4. Bà Trần Thị S, sinh năm 1973
  5. Ông Trần Hữu Q, sinh năm 1976

Đều địa chỉ: Tổ dân phố S, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ư: Luật sư Trần Phan D- Luật sư Công ty L4. Địa chỉ: Số nhà A, ngõ A T, Đ, Hà Nội. (Có mặt)

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  1. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1970
  2. Anh Trần Trọng Q1, sinh năm 1994
  3. Chị Trần Thị H2, sinh năm 1998
  4. Anh Trần Trọng Q2, sinh năm 2000

Đều địa chỉ: Xóm T, tổ dân phố S, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Bà Nguyễn Thị H1, anh Trần Trọng Q1, chị Trần Thị H2, anh Trần Trọng Q2 đều ủy quyền cho ông Trần Trọng H, sinh năm 1963; địa chỉ: Xóm T, tổ dân phố S, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)

  1. Bà Trần Thị V, sinh năm 1940 (đã chết ngày 04/01/2022)

Địa chỉ: Xóm T, tổ dân phố S, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Thị V:

  • Ông Trần Hữu L, sinh năm 1964
  • Ông Trần Hữu C, sinh năm 1967
  • Bà Trần Thị N, sinh năm 1970
  • Bà Trần Thị S, sinh năm 1973
  • Ông Trần Hữu Q, sinh năm 1976

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố S, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

  1. Ủy ban nhân dân thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Địa chỉ: Đường H, tổ dân phố số B, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lương Ngọc Đ- Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)

  1. Ông Trần Hữu P, sinh năm 1941 (Đã chết ngày 23/6/2021)
  2. Ông Trần Hữu V1, sinh năm 1960 (Có mặt)
  3. Ông Trần Hữu C1, sinh năm 1947
  4. Ông Trần Hữu V2, sinh năm 1962 (Có mặt)
  5. Ông Trần Hữu Đ1, sinh năm 1968
  6. Ông Trần Hữu Q3, sinh năm 1977
  7. Ông Trần Hữu T, sinh năm 1975 (Vắng mặt)
  8. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1948 (Vắng mặt)
  9. Ông Trần Hữu T1, sinh năm 1977
  10. Ông Trần Hữu V3, sinh năm 1983
  11. Bà Trần Thị D1, sinh năm 1952
  12. Ông Trần Hữu B, sinh năm 1952
  13. Ông Trần Thanh T2, sinh năm 1976 (Vắng mặt)
  14. Ông Trần Hữu L1, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
  15. Ông Trần Hữu L, sinh năm 1964
  16. Ông Trần Hữu C, sinh năm 1967
  17. Ông Trần Hữu L2, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
  18. Ông Trần Hữu T3, sinh năm 1970
  19. Ông Trần Hữu T4, sinh năm 1975 (Vắng mặt)
  20. Ông Trần Hữu V4, sinh năm 1955
  21. Ông Trần Hữu K, sinh năm 1981
  22. Ông Trần Hữu T5, sinh năm 1984
  23. Ông Trần Hữu C2, sinh năm 1972 (Vắng mặt)
  24. Ông Trần Hữu T6, sinh năm 1976 (Vắng mặt)
  25. Ông Trần Hữu Đ2, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
  26. Ông Trần Hữu C3, sinh năm 1962 (Có mặt)
  27. Ông Trần Hữu Q, sinh năm 1975

Đều địa chỉ: Xóm T, tổ dân phố S, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

  1. Ông Trần Hữu T7, sinh năm 1967. Địa chỉ: Thôn L, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. (Vắng mặt)

* Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Hữu L, ông Trần Hữu C, bà Trần Thị N, bà Trần Thị S, ông Trần Hữu Q: Ông Đặng Minh T8, sinh năm 1976, địa chỉ: Số A, phố G, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. (Có mặt)

* Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Hữu C1, ông Trần Hữu Đ1, ông Trần Hữu Q3, ông Trần Hữu T1, ông Trần Hữu V3, bà Trần Thị D1, ông Trần Hữu B, ông Trần Hữu T3, ông Trần Hữu V4, ông Trần Hữu K, ông Trần Hữu T5, ông Trần Hữu Q: Ông Trần Hữu V1, ông Trần Hữu V2, ông Trần Hữu C. (Có mặt)

Người kháng cáo:

  • - Ông Trần Hữu L, ông Trần Hữu C, ông Trần Hữu Q là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn trong vụ án.
  • - Ông Trần Hữu V1, ông Trần Hữu V2, ông Trần Hữu C là người liên quan và là người đại diện theo ủy quyền của các ông bà Trần Hữu C1, Trần Hữu Đ1, Trần Hữu Q3, Trần Hữu T1, Trần hữu V5, Trần Thị D1, Trần Hữu B, Trần Hữu T3, Trần Hữu V4, Trần Hữu K, Trần Hữu T5, Trần Hữu Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN

  1. Tại đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn (ông Trần Trọng H) trình bày: Ông H là chủ sử dụng diện tích đất 1.593,6m², thửa số 409, tờ bản đồ số 9 địa chỉ tại thôn S (nay là tổ dân phố S), thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (dưới đây viết tắt là GCNQSD đất) số BP181468 ngày 08/7/2013. Ngày 20/5/2018, ông Trần Hữu Ư đã thuê người xúc, ủi đất san lấp ao sau Đ3 thuộc phần diện tích đất đã được cấp GCNQSD đất cho ông H và cho rằng đó là đất của gia đình ông Ư. Ông H đã ngăn cản và yêu cầu gia đình ông Ư dừng việc đổ đất nhưng ông Ư vẫn cố tình san lấp diện tích ao trên (khoảng 240m²). Sự việc đã được các cấp chính quyền địa phương can thiệp, tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng ông Ư vẫn cố tình tiếp tục thực hiện hành vi. Do đó ông H đã làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Việt Yên. Trong đơn khởi kiện đề 19/4/2018 ông H khởi kiện yêu cầu ông Trần Hữu Ư tháo dỡ công trình trên đất trả lại gia đình ông diện tích đất 240m² tại xóm T, tổ dân phố S, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày 15/8/2023 ông H yêu cầu gia đình ông Ư tháo dỡ công trình trên đất và trả lại ông diện tích lấn chiếm là 238m².
  2. Bị đơn (ông Trần Hữu Ư) trình bày: Diện tích đất ao mà ông H đang tranh chấp với ông có nguồn gốc là đất của tập thể chia cho gia đình ông và gia đình ông H cùng sử dụng từ năm 1955. Đến năm 1965 Hợp tác xã lên hợp nhất, hai gia đình trả lại ao cho hợp tác xã. Đến năm 1980, có chính sách khoán thầu, ông và ông Phạm Văn T9 ký thầu với hợp tác xã 10 năm. Hết thầu hợp tác xã nợ tiền của tổ bảo vệ nên đã giao cho tổ bảo vệ sử dụng, khai thác trong 10 năm. Thực tế là đến năm 1995 thì ao bị ô nhiễm nên không còn thả cá nữa. Đến năm 2002 thì ông H tự ý kê khai làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông H. Trong Biên bản làm việc với Tòa án ngày 17/8/2018 ông Ư đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông H. Quá trình làm việc với Tòa án ông Ư khai do ông không có nhu cầu sử dụng đến thửa đất trên nên ông đã hiến đất cho họ xây nhà thờ họ trên đất và hiện nay nhà thờ đã khánh thành, đưa vào sử dụng. Tại phiên tòa ngày 18/6/2019 ông Ư thừa nhận diện tích đất trên là đất của ông H vì đã được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H. Ông mong muốn hai gia đình thỏa thuận về diện tích đất đang tranh chấp để giữ tình làng nghĩa xóm.

Quá trình Tòa án giải quyết vụ án bị đơn là ông Trần Hữu Ư đã chết vào ngày 20/4/2020 (theo Trích lục khai tử số 29/2020/TLKT ngày 22/4/2020 do UBND thị trấn Nếnh cấp). Gia đình ông Trần Hữu Ư đã cung cấp cho Tòa án Đơn xin xác nhận hàng thừa kế thứ nhất của ông Ư bao gồm: Bà Trần Thị V sinh năm 1940 (vợ ông Ư), ông Trần Hữu L sinh năm 1964, ông Trần Hữu C sinh năm 1967, bà Trần Thị N sinh năm 1970, bà Trần Thị X sinh năm 1972, ông Trần Hữu Q sinh năm 1976 (là các con của ông Ư). Ngày 11/6/2020 những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Ư đã có văn bản ủy quyền cho ông Đặng Minh T8 tham gia tố tụng tại Tòa án và không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Trọng H, đồng thời yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y955532 do UBND huyện V cấp cho hộ ông Trần Trọng H ngày 31/12/2002, cấp đổi ngày 08/7/2013 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 181468. Ngày 04/01/2022 bà Trần Thị V chết (theo Trích lục khai tử số 07/TLKT-BS ngày 05/01/2022), ngày 05/01/2023 ông Trần Hữu L sinh năm 1964, ông Trần Hữu C sinh năm 1967, bà Trần Thị N sinh năm 1970, bà Trần Thị X sinh năm 1972, ông Trần Hữu Q sinh năm 1976 (là các con của bà V, ông Ư) ủy quyền cho ông Đặng Minh T8 tham gia tố tụng tại Tòa án.

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị H1, anh Trần Trọng Q1, chị Trần Thị H2, anh Trần Trọng Q2 trình bày: Bà H1, anh Q1, chị H2, anh Q2 đã ủy quyền cho ông Trần Trọng H tham gia tố tụng tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Trần Hữu Ư.

Bà Trần Thị V trình bày: Bà xác định diện tích đất mà ông H đang tranh chấp với gia đình bà là đất chung của hai gia đình. Nay ông H khởi kiện bà không đồng ý và bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngày 04/01/2022 bà V chết (theo Trích lục khai tử số 07/TLKT-BS ngày 05/01/2022 do UBND thị trấn N), Tòa án xác định ông Trần Hữu L sinh năm 1964, ông Trần Hữu C sinh năm 1967, bà Trần Thị N sinh năm 1970, bà Trần Thị X sinh năm 1972, ông Trần Hữu Q sinh năm 1976 (là các con của bà V) là người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà V.

Ông Trần Hữu V1, ông Trần Hữu V2, ông Trần Hữu C, ông Trần Thanh T2 trình bày: thứ nhất các ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì: phần diện tích ông H ông cầu Tòa án giải quyết là Từ đường chung của dòng họ Trần H3, tài sản này do tất cả anh em, con cháu họ Trần đóng góp công sức, tiền bạc xây dựng lên, phần đất ông Ư hiến cho dòng họ để xây Từ đường là phần đất của gia đình ông Ư đã quản lý và sử dụng từ năm 1955 đến nay, không phải là đất của gia đình ông Trần Trọng H. Gia đình ông H được UBND huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho toàn bộ khu đất của gia đình ông Ư – giờ là phần đất xây dựng Từ đường chung của họ Trần H3 là không đúng thực tế sử dụng và quản lý đất, có dấu hiệu tiêu cực và làm trái các quy định của pháp luật; thứ hai: Các ông yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Việt yên tuy hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 955532 do UBND huyện V cấp lần đầu cho ông Trần Trọng H và bà Nguyễn Thị H1 ngày 31/12/2002, cấp đổi ngày 08/7/2013 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP181468, vì UBND huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Trọng H và bà Nguyễn Thị H1 mà không làm rõ nguồn gốc đất, không làm rõ việc sử dụng đất, quá trình sử dụng đất của hai gia đình, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Trần Trọng H có dấu hiệu tiêu cực, làm trái quy định của pháp luật. quá trình UBND huyện V và các cơ quan Nhà nước thực hiện thủ tục xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích hai gia đình sử dụng chung nhưng tất cả các ông là những người họ hàng, hàng xóm sinh sống xung quanh nhà ông Trần Trọng H không hề biết việc gia đình ông Trần Trọng H được cấp giấy toàn bộ diện tích đất ao 480m², trong khi chỉ đ ược sử dụng ½ diện tích đất ao này. Các ông không được thông báo công khai về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ao này cho ông H tại địa phương, việc gia đình ông H, bà H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất toàn bộ diện tích ao 480m² gây bất bình và bức xúc cho tất cả bà con, hàng xóm tại xóm T, S, thị trấn N, huyện V.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan của ông Trần Hữu C1, ông Trần Hữu Đ1, ông Trần Hữu Q3, ông Trần Hữu T1, ông Trần Hữu V3, bà Trần Thị D1, ông Trần Hữu B, ông Trần Hữu T3, ông Trần Hữu V4, ông Trần Hữu K, ông Trần Hữu T5, ông Trần Hữu Qlà ông Trần Hữu V1, ông Trần Hữu V2, ông Trần Hữu C thống nhất trình bày: Thứ nhất: Về nguồn gốc đất liên quan đến tranh chấp mà gia đình ông Trần Trọng H yêu cầu Tòa án giải quyết: các ông bà là những người sinh ra và lớn lên tại xóm T - S - thị trấn N - V - Bắc Giang, tất cả đều biết rõ về quá trình sử dụng, quản lý phần đất này. Cụ thể năm 1955 Cải cách ruộng đất, chính quyền có chia cho ông Trần Hữu C4 (bố ông Ư) và ông Trần Trọng P1 (bố ông H) 01 cái ao đầu đình của địa chủ Trần Hữu T10 (khoản 480m²) để thả cá chung, việc chia này vẫn còn một số cụ cao niên trong ban chia ruộng đất còn sống xác nhận. Đến năm 1965 hai ông đưa ao vào Hợp tác xã, đến năm 1980 có chính sách khoán thầu ông Trần Hữu Ư có thầu ao này, thời gian sau ao bị ô nhiễm không thả cá được thì gia đình ông Ư tiếp tục quản lý, sử dụng ½ diện tích bên ngoài (gần đình) có trồng chuối, giếng và trồng tre cho đến khi hiến phần đất này cho họ Trần H3 để xây dựng từ đường chung của dòng họ. Thứ hai: Trước khi xay nhà từ đường chung của dòng họ, ông bà biết rõ phần đất liên quan tranh chấp mà ông Ư hiến cho dòng họ để xây dựng từ đường là phần đất phía gia đình ông Ư thực tế quản lý và sử dụng liên tục từ năm 1955 đến nay, phần đất này không phải của gia đình ông H nên các ông bà đồng ý tiếp nhận mảnh đất này và cùng đóng góp để xây dựng Từ đường chung của họ Trần, giữa dòng họ và gia đình ông Ư không có tranh chấp gì về việc hiến đất và xây dựng Từ đường trên đất, hiện dòng họ Trần H3 đang thực hiện việc thờ tự tổ tiên theo phong tục văn hóa truyền thống Việt Nam. Thứ bao: việc xây dựng trên mảnh đất là Từ đường chung của dòng họ Trần H3, tài sản này do tất cả anh em, con cháu họ Trần đóng góp xây dựng. Thứ tư: việc gia đình ông Trần Trọng H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gây bức xúc và bất bình cho tất cả bà con, hàng xóm. Thứ năm: việc gia đình ông H được UBND huyện cấp Giấy chứng nhận toàn bộ diện tích ao là không đúng thực tế sử dụng và quản lý đất, có dấu hiệu tiêu cực và làm trái các quy định pháp luật khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không làm rõ được nguồn gốc đất, không làm rõ được việc sử dụng đất, quá trình sử dụng đất của 2 gia đình đang sử dụng là có dấu hiện tiêu cực, làm trái quy định của pháp luật. Thứ sáu: Quá trình UBND huyện V và các cơ quan nhà nước thực hiện thủ tục xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất hai gia đình đang sử dụng chung nhưng tất cả chúng tôi là những người họ hàng, hàng xóm sinh sống xung quanh nhà ông Trần Trọng H không hề được biết, các ông bà không được UBND xã và các cơ quan Nhà nước thông báo công khai việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H phần diện tích đất ao này tại địa phương. Vì vậy quan điểm của các ông bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, các ông bà đề nghị Tòa án xem xét đúng bản chất, nguồn gốc đất mà hai gia đình sử dụng từ đó công nhận quyền sở hữu hợp pháp cho gia đình ông Trần Hữu Ư đối với ½ diện tích đất ao, trên cơ sở đó công nhận quyền sở hữu và sử dụng Từ đường và đất cho dòng họ Trần H3, hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đình ông H, đưa Chủ tịch UBND huyện V tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong việc hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ông Trần Hữu T7 trình bày: Thứ nhất: Về nguồn gốc đất tranh chấp: là người sinh ra và lớn lên tại xóm T, S, thị trấn N, V, Bắc Giang, ông biết rõ về quá trình sử dụng, quản lý phần đất này. Cụ thể năm 1955 Cải cách ruộng đất, chính quyền có chia cho ông Trần Hữu C4 (bố ông Ư) và ông Trần Trọng P1 (bố ông H) 01 cái ao đầu đình của địa chủ Trần Hữu T10 (khoản 480m²) để thả cá chung, việc chia này vẫn còn một số cụ cao niên trong ban chia ruộng đất còn sống xác nhận. Đến năm 1965 hai ông đưa ao vào Hợp tác xã, đến năm 1980 có chính sách khoán thầu ông Trần Hữu Ư có thầu ao này, thời gian sau ao bị ô nhiễm không thả cá được thì gia đình ông Ư tiếp tục quản lý, sử dụng ½ diện tích bên ngoài (gần đình) có trồng chuối, giếng và trồng tre cho đến khi hiến phần đất này cho họ Trần H3 để xây dựng từ đường chung của dòng họ, ông khẳng định phần đất 240m² mà ông Ư hiến cho dòng họ để xây dựng từ đường là phần đất nhà ông Ư thực tế quản lý và sử dụng liên tục từ năm 1955 đến nay. Thứ hai: ông biết rõ nguồn gốc đất này nên khi ông Ư hiến đất dòng họ mới đồng ý tiếp nhận và cùng đóng góp để xây dựng từ đường. Thứ ba: Ông có đóng góp vào việc xây dựng từ đường, việc đóng góp này có được dòng họ ghi chép đầy đủ. Thứ tư: việc gia đình ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gây bắc xúc và bất bình cho tất cả bà con, hàng xóm. Thứ năm: việc gia đình ông H được UBND huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có dấu hiệu tiêu cực, làm trái các quy định của pháp luật. Vì vậy ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H, đề nghị Tòa án xem xét đúng bản chất, nguồn gốc đất mà hai gia đình sử dụng từ năm 1955 đến nay, công nhận quyền sở hữu hợp pháp cho gia đình ông Ư đối với ½ diện tích đất ao đang tranh chấp.

Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang trình bày: Thửa đất các đương sự đang tranh chấp là một phần thửa 409, tờ bản đồ số 09, diện tích 1593,6m² (trong đó đất ở 300m², đất trồng cây lâu năm 1293,6m²) theo kết quả đo đạc bản đồ chính quy thể hiện là thửa 93, tờ bản đồ số 45 (đo đạc nghiệm thu năm 2016). Năm 2002, UBND xã Q tổ chức và thiết lập hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (viết tắt là GCN QSD) đất cho 1543 hộ thuộc các thôn Đ, thôn S, thôn K, thôn K, trong đó có hộ ông Trần Trọng H kê khai đối với thửa đất số 409, tờ bản đồ số 09, diện tích 1593,6m² (đất ở 300m², đất vườn 1293,6m²); địa chỉ thửa đất tại thôn S, xã Q. UBND xã Q đã tổ chức thiết lập, xét duyệt hồ sơ theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Thông tư 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp GCN QSD đất (có xét duyệt, công khai đầy đủ). Ngày 19/12/2002, UBND xã Q có tờ trình số 21/TT-UB trình UBND huyện V cấp GCN QSD đất cho 1543 hộ thuộc các thôn nêu trên (có hộ ông Trần Trọng H như đã nêu). Căn cứ Tờ trình số 21/TT-UB của UBND xã Q, Phòng Địa chính Nông nghiệp (nay là Phòng T14) đã thẩm tra hồ sơ và có Tờ trình số 35/TT-ĐCNN ngày 26/12/2002 trình UBND huyện cấp GCN QSD đất. Đến ngày 31/12/2002, UBND huyện đã ban hành Quyết định số 1532/QĐ-UB về việc cấp GCN QSD đất cho các hộ (địa chỉ thửa đất thuộc xã Q). Tại thời điểm xét cấp GCN QSD đất năm 2002 UBND huyện đang thực hiện đề án thành lập thị trấn N do đó sơ suất đã in địa chỉ thửa đất từ xã Q thành thị trấn Nếnh do đó có sự sai sót trong GCN QSD đất đã cấp cho ông Trần Trọng H (GCN QSD đất Y 955532, số vào sổ 00118, cấp ngày 31/12/2002). Đến năm 2013, phát hiện ra sai sót ông Trần Trong H4 đã có đơn đề nghị cấp lại GCN QSD đất với lý do “sai sót địa chỉ thửa đất tại thời điểm cấp giấy chứng nhận” và được UBND huyện cấp lại GCN QSD đất có số phát hành BP 181468, số vào sổ CH 00354 ngày 08/7/2013 theo đúng quy định.

Như vậy việc xét cấp GCN QSD đất lần đầu cho hộ ông Trần Trọng H đối với thửa đất 409, tờ bản đồ số 09, địa chỉ thửa đất tại S, xã Q (nay là thị trấn N) và việc cấp lại GCN QSD đất năm 2013 được thực hiện đảm bảo đúng trình tự theo quy định tại thời điểm cấp GCN QSD đất.

Trên cơ sở kết quả kiểm tra, xem xét hồ sơ và căn cứ quy định pháp luật nhận thấy: Việc cấp GCN QSD đất năm 2002 và cấp lại GCN QSD đất năm 2013 đối với thửa đất 409, tờ bản đồ 09, diện tích 1593,6m², địa chỉ thửa đất thôn S, xã Q (nay là TDP S, thị trấn N) là đúng quy định pháp luật. Việc các hàng thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Trần Hữu Ư đề nghị Tòa án nhân dân huyện Việt Yên hủy GCN QSD đất đã cấp cho ông Trần Trọng H và bà Nguyễn Thị H1 là không có căn cứ pháp luật.

Tại Công văn số 454/UBND-ĐCXD ngày 16/12/2022 của UBND thị trấn N về việc cung cấp thông tin thửa đất liên quan vụ án. UBND thị trấn Nếnh cung cấp: Thửa đất đang tranh chấp giữa ông Trần Trọng H và ông Trần Hữu Ư theo thông tin bản đồ địa chính thị trấn Nếnh đo đạc năm 2015 là thửa số 93, tờ bản đồ số 45, diện tích 1601,6m² tại tổ dân phố S, thị trấn N đã được UBND huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 181468, số vào số CH00354 ngày 08/7/2013 đối với thửa số 409, tờ bản đồ số 9 diện tích 1593,6m², trong đó đất ở đô thị 300m², đất trồng cây lâu năm 1293,6m² tại thôn S, thị trấn N. Có tên trong sổ bộ thuế phi nông nghiệp của UBND thị trấn N, tên người nộp thuế Trần Trọng H. Từ năm 2016 thửa đất trên thuộc diện miễn thuế phi nông nghiệp do tiền thuế dưới 50.000 đồng. Năm 2022 số tiền thuế phi nông nghiệp phải nộp là 90.000 đồng, ông Trần Trọng H là người nộp thuế phi nông nghiệp.

Xác minh tại UBND xã Q: UBND xã Q cung cấp: Hiện UBND xã Q không còn lưu trữ được hồ sơ, sổ sách tài liệu gì liên quan đến việc quản lý hành chính về đất đai của thôn S, thị trấn N (trước tháng 6/2003 thôn S thuộc UBND xã Q). Việc có bàn giao hồ sơ, số sách địa chính của thôn S cho UBND thị trấn N, UBND xã Q không nắm được do không có tài liệu lưu trữ thể hiện.

Xác minh tại UBND thị trấn N: thôn S (nay là tổ dân phố S) trước tháng 6/2003 thuộc xã Q, sau khi thôn S sáp nhập vào thị trấn N thì UBND xã Q cũng không bàn giao hồ sơ số sách liên quan đến quản lý đất đai của thôn S cho UBND thị trấn N quản lý. Do vậy UBND thị trấn N không nắm được từ năm 1995 đến trước năm 2002 diện tích đất ông H và ông Ư đang tranh chấp có được giao cho ai không, diện tích là bao nhiêu, giao cho ai quản lý, sử dụng, ai là người thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước, có tranh chấp gì không.

Xác minh tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V: Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cung cấp: Qua kiểm tra kho lưu trữ của Chi nhánh, do quá trình lưu trữ hồ sơ đã quá lâu, hiện không thấy có hồ sơ lưu trữ đối với hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu đối với hộ ông Trần Trọng H ở tổ dân phố S, thị trấn N đối với thửa số 409, tờ bản đồ số 09, diện tích 1593,6m².

Xác minh tại Tổ dân phố S: Tổ trưởng tổ dân phố S cung cấp: Ban lãnh đạo tổ dân phố S hiện nay không được Ban lãnh đạo tổ dân phố Sen Hồ các nhiệm kỳ trước bàn giao lại tài liệu số sách liên quan đến diện tích đất ao ông H và ông Ư đang tranh chấp.

Xác minh đối với ông Chu Bá B1 – nguyên cán bộ địa chính + thuế xã Q (đã nghỉ hưu) cung cấp: Ngày 10/4/2009 ông có xác nhận cho ông Trần Trọng H nội dung: “trong sổ gốc theo dõi của UBND xã Q trước đây có theo dõi và thu thuế hàng năm của anh Trần Trọng L3 vườn ao hàng năm”. Do thời gian nghỉ công tác đã lâu và hồ sơ quản lý đất đai sau khi thị trấn Nếnh được thành lập (tháng 6/2003) ông đã bàn giao cho UBND thị trấn N nên ông không còn nhớ diện tích đất cụ thể là bao nhiêu.

Xác minh đối với ông Nguyễn Minh T11- Nguyên thống kê giúp việc cho Ban lãnh đạo thôn cung cấp: Ông làm thống kê thôn nhiều năm, đến năm 2013 thì không làm nữa, sau khi nghỉ làm ông đã bàn giao lại hồ sơ sổ sách cho ông Nguyễn Tiền P2 sinh năm 1954 (đã mất năm 2021). Ngày 10/4/2009 ông có xác nhận cho ông Trần Trọng H nội dung “ thống kê quản lý ruộng đất thôn S xác nhận đơn đề nghị của ông Trần Trọng H xóm T12 có diện tích theo sổ bìa đỏ là 1593,6m² là đúng, hàng năm vẫn đóng thuế, tôi đã kiểm tra số sách”. Việc xác nhận nội dung này là đúng, thời điểm đó ông làm thống kê thôn, ông có kiểm tra sổ sách ông quản lý.

Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 63/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên đã xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Trọng H. Buộc ông Trần Hữu L, ông Trần Hữu C, bà Trần Thị N, bà Trần Thị X, ông Trần Hữu Q phải tháo dỡ công trình trên đất, trả lại diện tích đất đã lấn chiếm của gia đình ông Trần Trọng H là 238m² có địa chỉ tại Xóm T, tổ dân phố S, thị trấn N, huyện V (phần lấn chiếm là hình đa giác có ký hiệu số 13, 14, 15, 16, 19), diện tích các cạnh cụ thể: từ 13-14 là 11, 03m, từ 14-15 là 16,55m, từ 15-16 là 2,24m, từ 16-19 là 14,00m, từ 19 -13 là 28,28m. (theo sơ đồ ban hành kèm theo bản án).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền thi hành án, lãi suất chậm trả và quyền kháng cáo cho các bên đương sự.

Ngày 02 tháng 10 năm 2023, ông Trần Hữu L, ông Trần Hữu C, bà Trần Thị N, bà Trần Thị X, ông Trần Hữu Q kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 63/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang hủy bản án dân sự sơ thẩm số 63/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên để giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn “ Hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP181468 do UBND huyện cấp” trong cùng vụ án mới đúng quy định của pháp luật và đảm bảo quyền lợi của bị đơn cũng như những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Trên cơ sở đó yêu cầu TAND huyện Việt Yên chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án lên Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang để giải quyết sơ thẩm theo đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Ngày 03 tháng 10 năm 2023, ông Trần Hữu V1, ông Trần Hữu V2, ông Trần Hữu C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và là người đại diện theo ủy quyền của các ông, bà sau: ông Trần Hữu C1, ông Trần Hữu Đ1, ông Trần Hữu Q3, ông Trần Hữu T1, ông Trần Hữu V3, bà Trần Thị D1, ông Trần Hữu B, ông Trần Hữu T3, ông Trần Hữu V4, ông Trần Hữu K, ông Trần Hữu T5, ông Trần Hữu Q kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 63/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên để giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Buộc Tòa án nhân dân huyện Việt Yên chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án lên Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang để giải quyết sơ thẩm theo thẩm quyền.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên nội dung kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Quá trình xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử có nhận được văn bản ý kiến của ông Trần Hữu C3, ông Chu trình b : Bố ông là ông Trần Hữu P (là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án) chết ngày 23/6/2021. Ông P có hai người vợ, người vợ thứ nhất là bà Đỗ Thị T13, địa chỉ: TDP K, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, không có đăng ký kết hôn và không còn chung sống từ năm 1970; người vợ thứ hai là bà Chu Thị V6, sinh năm 1945, địa chỉ: TDP Đ, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, không có đăng ký kết hôn, không còn chung sống với nhau từ năm 1977. Ông P có 03 người con: Ông Trần Hữu C3 (cũng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án), chị Trần Thị H5, sinh năm 1977, địa chỉ : TDP Đ, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang và chị Trần Thị N2, sinh năm 1975 đã chết, không có chồng con. Tại phiên tòa, ông Chu trình b: Năm 2018, ông Ư cho đất để xây dựng nhà thờ họ. Ông Trần Hữu P có đóng góp xây nhà thờ họ, tuy nhiên đóng bao nhiêu thì ông không nắm được. Còn bản thân ông không đóng góp xây dựng nhà thờ họ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Hữu Ư trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng trong tố tụng, ra bản án không đúng, hủy GCNQSDĐ là không thuộc thẩm quyền của Tòa án thị xã Việt Yên, có dấu hiệu làm sai quy đinh của pháp luật. Tòa án thị xã V đã thu lý phần phản tố yêu cầu hủy GCNQSDĐ đã thụ lý giải quyết nhưng không giải quyết. Phản tố yêu cầu hủy GCNQSDĐ cấp cho ông H, việc xem xét cấp GCNQSDĐ có đúng quy định hay không. Việc cấp GCNQSDĐ sai phạm nhiều về thủ tục, sai lệch hồ sơ cấp đất, địa chỉ ghi là thị trấn N trong đó thời điểm đấy chưa thành lập thị trấn N. Nhận thấy xác định đấy là từ đường chung của dòng họ là đúng nhưng bản án sơ thẩm tuyên không đúng, ảnh hưởng đến quyền lợi của các thành viên trong dòng họ. Vì các lẽ trên yêu cầu hủy bản án và hủy GCNQSDĐ để đảm bảo quyền lợi chung của các thành viên trong gia đình ông Trần Hữu Ư.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS).

Về nội dung vụ án, sau khi phân tích, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự, xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Hữu L, ông Trần Hữu C, ông Trần Hữu Q, ông Trần Hữu V1, ông Trần Hữu V2, ông Trần Hữu C1, ông Trần Hữu Đ1, ông Trần Hữu Q3, ông Trần Hữu T1, ông Trần Hữu V3, bà Trần Thị D1, ông Trần Hữu T3, ông Trần Hữu V4, ông Trần Hữu K, ông Trần Hữu T5; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 63/2023/DS-ST ngày 22/9/2023, của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang.

Về án phí DSPT: Ông Trần Hữu V1, ông Trần Hữu V2, ông Trần Hữu C1, ông Trần Hữu B, bà Trần Thị D1, ông Trần Hữu V4 được miễn án phí dân sự phúc thẩm. Ông Trần Hữu L, ông Trần Hữu C, ông Trần Hữu Q, ông Trần Hữu Đ1, ông Trần Hữu Q3, ông Trần Hữu T1, ông Trần Hữu V3, ông Trần Hữu T3, ông Trần Hữu K, ông Trần Hữu T5 mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND thị xã V, ông Trần Hữu T, bà Nguyễn Thị N1, ông Trần Thanh T2, ông Trần Hữu L1, ông Trần Hữu L2, ông Trần Hữu T4, ông Trần Hữu C2, ông Trần Hữu T6, ông Trần Hữu Đ2 và ông Trần Hữu T7 vắng mặt không có lý do, không có kháng cáo, xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vắng mặt đối với các đương sự này.

[2] Xét kháng cáo của ông Trần Hữu L, ông Trần Hữu C, ông Trần Hữu Q, ông Trần Hữu V1, ông Trần Hữu V2, ông Trần Hữu C1, ông Trần Hữu Đ1, ông Trần Hữu Q3, ông Trần Hữu T1, ông Trần Hữu V3, bà Trần Thị D1, ông Trần Hữu B, ông Trần Hữu T3, ông Trần Hữu V4, ông Trần Hữu K, ông Trần Hữu T5, Hội đồng xét xử thấy:

[2.1] Ông Trần Trọng H yêu cầu ông Trần Hữu Ư tháo dỡ công trình trên đất, trả lại diện tích đất lấn chiếm cho ông. Việc ông Ư cùng một số thành viên họ Trần H3 đứng ra xây dựng công trình trên phần đất của ông H là có thật. Tại phiên tòa ông Đặng Minh T8 trình bày về nguồn gốc phần đất đang tranh chấp, nhưng không cung cấp được giấy tờ, tài liệu chứng cứ chứng minh diện tích đất này là của ông Trần Hữu Ư. Qua đo vẽ và kiểm tra thực địa phần đất tranh chấp có diện tích là 238m², đã xây dựng nhà thờ là nhà gỗ, có lợp mái ngói, có cổng vào và tường gạch bao xung quanh. Quá trình hai bên xảy ra tranh chấp, chính quyền địa phương đã nhiều lần đến lập biên bản, giải thích cho các bên liên quan nhưng ông Ư và những ngưởi liên quan không dừng việc xây dựng mà vẫn tiến hành. UBND thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang đã ra Quyết định số 58/QĐ-UBND ngày 18/6/2018 về việc đình chỉ thi công công trình xây dựng trái phép trên đất đang có tranh chấp giữa hộ gia đình ông Trần Hữu Ư với hộ gia đình ông Trần Trọng H, xóm T, thôn S, thị trấn N.

Bị đơn, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn xác định diện tích đất đã xây dựng nhà thờ là của gia đình ông Trần Hữu Ư. Tuy nhiên, không cung cấp được cho Tòa án các giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 100 của Luật đất đai. UBND huyện V (nay là thị xã V) xác định việc cấp GCN QSD đất cho ông Trần Trọng H, bà Nguyễn Thị H1 được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Thông tư 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp GCN QSD đất. Xác minh tại tổ dân phố S, UBND xã Q, UBND thị trấn N đều không còn lưu trữ được tài liệu, hồ sơ liên quan đến quyền sử dụng đất các đương sự đang tranh chấp. Cho đến thời điểm xét xử, bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh thửa đất trên là của ông Trần Hữu Ư, không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh chủ sở hữu hợp pháp thửa đất là của ai ngoài GCNQSD đất đã được UBND huyện V cấp cho ông Trần Trọng H, bà Nguyễn Thị H1.

Từ những phân tích nêu trên xác định ông Trần Trọng H và bà Nguyễn Thị H1 là người có quyền sử dụng thửa đất số số 409, tờ bản đồ số 9, diện tích 1593,6m² địa chỉ tại tổ dân phố S, thị trấn N, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang (bao gồm cả phần diện tích đất 238m² mà ông Ư xây dựng nhà thờ). Như vậy, đã có đủ căn cứ xác định ông Trần Hữu Ư có lấn chiếm và xây dựng công trình trên phần đất của ông H có diện tích là 238m². Bản án sơ thẩm buộc ông Ư tháo dỡ công trình đã xây trên đất và trả lại diện tích đất lấn chiếm cho ông Trần Trọng H bà Nguyễn Thị H1 là phù hợp với quy định tại các Điều 164, 166, 179, 185 của Bộ luật dân sự và Điều 166, Điều 170 của Luật đất đai.

Do đó, ông Trần Hữu L, ông Trần Hữu C, ông Trần Hữu Q, ông Trần Hữu V1, ông Trần Hữu V2, ông Trần Hữu C1, ông Trần Hữu Đ1, ông Trần Hữu Q3, ông Trần Hữu T1, ông Trần Hữu V3, bà Trần Thị D1, ông Trần Hữu B, ông Trần Hữu T3, ông Trần Hữu V4, ông Trần Hữu K, ông Trần Hữu T5 kháng cáo và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ư đề nghị Toà án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên để giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật là không có căn cứ và không được chấp nhận như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa.

[2.2] Về yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành Y955532, số vào sổ 00118 QSDĐ/1532/2002/QĐ-UB/H, cấp ngày 31/12/2002 cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 181648, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 00354 ngày 08/7/2013 của những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy: Như phân tích ở trên thì không có căn cứ để xác định Giấy chứng nhận quyền quyền sử dụng đất cấp cho ông H bà H1 thuộc trường hợp phải thu hồi theo quy định tại khoản 2 Điều 106 của Luật đất đai. Bản án sơ thẩm không xem xét đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có căn cứ.

[3]. Quá trình xét xử phúc thẩm, xác định được người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Trần Hữu P chết ngày 23/6/2021 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông P vào tham gia tố tụng và không tiến hành tố tụng với những người này thì thấy: Ông Trần Hữu C3 là con trai của ông P là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án nhưng trong quá trình giải quyết sơ thẩm không đến Tòa án làm việc, không có văn bản ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa phúc thẩm ông Chu trình b trong quá trình xây dựng nhà thờ thì ông không có đóng góp gì, còn ông P đóng góp như thế nào thì ông không nắm được. Việc Tòa án sơ thẩm không đưa và không tiến hành tố tụng với người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông P là vi phạm tố tụng nhưng xét thấy không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người này, sau này nếu có tranh chấp về việc đóng góp tiền xây dựng công trình trên phần đất tranh chấp thì những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông P có thể yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án dân sự khác. Do đó không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm số 63/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các đương sự phải chịu án phí DSPT theo quy định tại Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc ông Trần Hữu L, ông Trần Hữu C, ông Trần Hữu Q, ông Trần Hữu Đ1, ông Trần Hữu Q3, ông Trần Hữu T1, ông Trần Hữu V3, ông Trần Hữu T3, ông Trần Hữu K, ông Trần Hữu T5 mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí DSPT.

Các ông Trần Hữu C1, ông Trần Hữu V4, bà Trần Thị D1, ông Trần Hữu V1, ông Trần Hữu V2, ông Trần Hữu B là người cao tuổi nên được miễn án phí DSPT là phù hợp với quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Hoàn trả ông B 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007205 ngày 11/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  • Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Hữu L, ông Trần Hữu C, ông Trần Hữu Q, ông Trần Hữu V1, ông Trần Hữu V2, ông Trần Hữu C1, ông Trần Hữu Đ1, ông Trần Hữu Q3, ông Trần Hữu T1, ông Trần Hữu V3, bà Trần Thị D1, ông Trần Hữu B, ông Trần Hữu T3, ông Trần Hữu V4, ông Trần Hữu K, ông Trần Hữu T5. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 63/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang.
  • Án phí dân sự phúc thẩm:
    • + Ông Trần Hữu C1, ông Trần Hữu V4, bà Trần Thị D1, ông Trần Hữu V1, ông Trần Hữu V2, ông Trần Hữu B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả ông Trần Hữu B 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007205 ngày 11/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
    • + Ông Trần Hữu L, ông Trần Hữu C, ông Trần Hữu Q, ông Trần Hữu Đ1, ông Trần Hữu Q3, ông Trần Hữu T1, ông Trần Hữu V3, ông Trần Hữu T3, ông Trần Hữu K, ông Trần Hữu T5 mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí DSPT, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí do ông Trần Hữu C nộp theo biên lai các số: 0007204; 0007206; 0007207; 0007208; 0007209; 0007210; 0007211; 0007212; 0007213 cùng ngày 11/10/2023 và số 0007120 ngày 02/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang.
  • Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND TX Việt Yên;
  • - Chi cục THADS TX Việt Yên;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, PHCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Chuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2024/DS-PT ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 152/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger