|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 152/2023/HNGĐ-ST
Ngày 07 tháng 12 năm 2023
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Diễm Huyền
Ông Nguyễn Văn Kịch
Thư ký phiên tòa: Ông Quách Văn Diển, Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tham gia phiên tòa:
Không.
Ngày 07 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 315/2023/TLST-HNGĐ, ngày 05/10/2023 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 384/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/11/2023 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 396/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 21/11/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Trần Thị Lệ K, địa chỉ: ấp T, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng
Bị đơn: Trần Văn L, địa chỉ: ấp T, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Trong đơn khởi kiện ngày 25/9/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Lệ K trình bày: Giữa nguyên đơn với bị đơn là ông Trần Văn L tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1996, không có đăng ký kết hôn. Hai người có 03 con chung là Trần Thị Ngọc T sinh năm 1996, Trần Thị Ngọc M sinh năm 2000 và Trần Minh K1 sinh năm 2002. Quá trình chung sống do không cùng quan điểm, tính tình không phù hợp, nên thường xảy ra mâu thuẫn cãi nhau và không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng, hai người đã không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay bà K yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng giữa bà với ông L; về con chung cả 03 cháu đều đã trưởng thành và tự lập được
cuộc sống nên không yêu cầu giải quyết; về tài sản chung và nợ bà K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là ông Trần Văn L, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông L, nhưng ông không có ý kiến trả lời, cũng không đến Tòa án để cung cấp lời khai và tham gia các phiên họp khi được triệu tập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
- Tại phiên tòa, bà Trần Thị Lệ K là nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, ông Trần Văn L là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án, theo quy định tại Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Xét về quan hệ hôn nhân, giữa bà Trần Thị Lệ K với ông Trần Văn L thuộc trường hợp nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, do đó Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân này là không hợp pháp. Từ việc hôn nhân được xem là không hợp pháp nên khi có yêu cầu ly hôn, Tòa án không xem xét mâu thuẫn của các bên để khuyến khích hòa giải đoàn tụ, hàn gắn; chỉ xem xét giải quyết các tranh chấp về nuôi con chung và tài sản chung nếu có, theo quy định tại khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận để tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà K với ông L.
- Về con chung: Bà K và ông L có 03 người con chung nhưng tất cả đều đã trên tuổi thành niên và tự lập được cuộc sống, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ: Bà K không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông L không có yêu cầu phản tố, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về quyền kháng cáo của đương sự được thực hiện theo quy định tại các Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 228, 238, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 14, 15, 51, 53, 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình và được giải quyết như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị Lệ K và ông Trần Văn L.
- Về con chung: Các cháu Trần Thị Ngọc T, Trần Thị Ngọc M và Trần Minh K1 đều đã trên tuổi thành niên và tự lập được cuộc sống, đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Bà Trần Thị Lệ K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng án phí bà K đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010653 ngày 05/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Diệu |
Bản án số 152/2023/HNGĐ-ST ngày 07/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 152/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà K yêu cầu ly hôn ông L
