|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 152/2023/DS-PT Ngày: 03 - 11 - 2023 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan.
Các Thẩm phán: Ông Bích Văn Nhiên
Ông Đặng Văn Cường
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà Trang là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Lai - Kiểm sát viên.
Vào lúc 08 giờ, ngày 31 tháng 10 năm 2023 và ngày 03 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 119/2023/TLPT-DS ngày 08 tháng 8 năm 2023, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2023/DS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 158/2023/QĐ-PT ngày 11 tháng 9 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 119/2023/QĐ-PT ngày 22 tháng 9 năm 2023, Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 83/TB-TA ngày 13/10/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phan Văn P, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Ông Trần Ngọc H, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Đồng Hữu P – Văn phòng L3 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1985.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà T: Ông Phan Văn P, sinh năm 1981 (theo Văn bản ủy quyền ngày 06/5/2019).
- - Bà Huỳnh Thị Như T1, sinh năm 1989.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà T1: Ông Trần Ngọc H, sinh năm 1989 (theo Văn bản ủy quyền ngày 07/3/2023)
- Cùng địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- - Ông Trương Ngọc L, sinh năm 1974.
- Địa chỉ: Khu phố I, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- - Ông Lê Quang H1, sinh năm 1948.
- Địa chỉ: Số D L, Phường A, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Ngọc H.
Đương sự khác không kháng cáo.
Tại phiên tòa có mặt ông Phan Văn P, ông Trần Ngọc H, ông Đồng Hữu P1, ông Trương Ngọc L; vắng mặt ông Lê Quang H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:
· Nguyên đơn ông Phan Văn P trình bày:
Vào năm 2017, ông có nhận chuyển nhượng thửa đất số 05, tờ bản đồ số 00, diện tích 12.164m² tọa lạc tại thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận của ông Lê Quang H1 đã được Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 835319 ngày 22/6/2007 đứng tên ông Lê Quang H2, đăng ký biến động sang tên ông Lê Quang H1 ngày 11/8/2017 và đã đăng ký biến động sang tên ông ngày 23/11/2017. Hiện trạng đất khi nhận chuyển nhượng đã có cây bạch đàn tái sinh khoảng một năm tuổi, sau khi nhận chuyển nhượng đất từ ông Lê Quang H1 ông sử dụng đất và khai thác cây bạch đàn trên đất thì bị ông Trần Ngọc H tranh chấp cho rằng đất và cây bạch đàn trên đất là của vợ chồng ông Trần Ngọc H. Quá trình sử dụng đất, năm 2018 ông đã đóng trụ bê tông xung quanh ranh đất để xác định ranh giới đất với các chủ sử dụng đất liền kề và làm một giếng khoan để chuẩn bị cho việc trồng cây thanh long thì bị ông H tranh chấp nên đến nay trên đất chỉ có cây bạch đàn tái sinh.
Vào năm 2018 ông đã khởi kiện đến Tòa án yêu cầu ông Trần Ngọc H phải trả lại cho ông diện tích 12.164m² đất và 4.400 cây bạch đàn tái sinh trên đất tọa lạc tại thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận cho ông và vợ ông là bà Nguyễn Thị Kim T. Nay ông yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Trần Ngọc H, bà Huỳnh Thị Như T1 phải trả diện tích đất nêu trên và tài sản trên đất (gồm cây bạch đàn và 01 giếng khoan) cho vợ chồng ông. Ông thống nhất với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc ngày 16/12/2022 đối với đất tranh chấp (theo Mảnh chỉnh lý thửa đất ngày 06/02/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Bình Thuận) và tài sản trên đất; thống nhất với kết quả định giá tài sản đang tranh chấp theo Biên bản định giá tài sản ngày 08/8/2019 của Tòa án và đề nghị sử dụng các kết quả này làm căn cứ giải quyết vụ án.
- Bị đơn ông Trần Ngọc H trình bày:
Ông xác định không có yêu cầu phản tố trong vụ án; đối với thửa đất đang tranh chấp và tài sản trên đất như ông P trình bày hiện do ông và vợ ông là bà Huỳnh Thị Như T1 đang quản lý, sử dụng từ năm 2011 đến nay; quá trình sử dụng đất, vợ chồng ông có cày đất và bón phân cho cây bạch đàn trên đất, cày chống cháy hàng năm; cuối năm 2017 ông Phan Văn P cho người vào đất cắt cây bạch đàn của vợ chồng ông nên hai bên phát sinh tranh chấp. Nguồn gốc đất do ông nhận chuyển nhượng của ông Trương Ngọc L vào năm 2011, giữa ông và ông L có lập giấy mua bán viết tay, việc thực hiện giao dịch chuyển nhượng đất không có công chứng, chứng thực, giá chuyển nhượng đất và tài sản trên đất (cây bạch đàn) 40.000.000 đồng/ha. Diện tích 12.164m² đất đang tranh chấp là một phần trong tổng diện tích khoảng 07ha đất nhận chuyển nhượng từ ông L, khi ông nhận chuyển nhượng đất này thì trên đất đã có cây bạch đàn khoảng 01 năm tuổi. Quá trình sử dụng đất do bận công việc nên ông chưa thực hiện việc kê khai, đăng ký về đất và chưa yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nay hai bên đã xảy ra tranh chấp nhiều năm nên ông có thiện chí hòa giải với ông Phan Văn P để kết thúc việc tranh chấp như sau: đối với diện tích 11.982,3 m² đất và tài sản trên đất ông Phan Văn P đang tranh chấp thì ông đồng ý mỗi bên được quyền sử dụng ½ diện tích đất, đối với tài sản trên đất này thì vợ chồng ông có quyền khai thác toàn bộ.
Ông thống nhất với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc ngày 16/12/2022 đối với đất tranh chấp (theo Mảnh chỉnh lý thửa đất ngày 06/02/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Bình Thuận) và tài sản trên đất; thống nhất với kết quả định giá tài sản đang tranh chấp theo Biên bản định giá tài sản ngày 08/8/2019 của Tòa án và đề nghị sử dụng các kết quả này để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Ông Phan Văn P và ông Trần Ngọc H thống nhất xác định tài sản trên đất đến thời điểm xét xử vụ án gồm có 400 cây bạch đàn tái sinh và 01 giếng khoan, không tranh chấp về giá trị tài sản nên không yêu cầu Tòa án định giá lại.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim T trình bày:
Bà và ông Phan Văn P là vợ chồng, đến nay bà tiếp tục ủy quyền cho ông Phan Văn P tham gia tố tụng và quyết định các vấn đề có liên quan đến việc giải quyết vụ án, bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện và phần trình bày của ông Phan Văn P và không có yêu cầu độc lập.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Như T1 do ông Trần Ngọc H đại diện trình bày:
Bà và ông Trần Ngọc H là vợ chồng, đến nay bà tiếp tục ủy quyền cho ông Trần Ngọc H tham gia tố tụng và quyết định các vấn đề có liên quan đến việc giải quyết vụ án, bà thống nhất với phần trình bày của ông Trần Ngọc H và không có yêu cầu độc lập.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Ngọc L trình bày:
Diện tích đất đang tranh chấp (theo đo đạc thực tế là 11.982,3m²) có nguồn gốc do ông nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị H3 vào khoảng năm 2008-2010 (là một phần trong tổng diện tích khoảng 10ha đất ông nhận chuyển nhượng từ bà H3), khi chuyển nhượng đất này cho ông thì bà H3 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giữa ông và bà H3 có ký giấy tờ mua bán viết tay với nhau tại thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Khi nhận đất ông sử dụng máy định vị cá nhân của ông để xác định vị trí và diện tích đất theo sự chỉ dẫn của ông Bùi Văn C (là người quản lý đất cho bà H3) và có ông Nguyễn Kim L1 (người sinh sống tại địa phương) làm chứng, bà H3 không trực tiếp giao đất cho ông; trên đất ông nhận chuyển nhượng từ bà H3 là đất trống, ranh đất được xác định bằng các ụ đất và đường cày chừa lại làm ranh. Quá trình sử dụng đất, ông chưa kê khai, đăng ký và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vào khoảng năm 2010 ông thuê ông Vũ Xuân T2 và ông Vũ Xuân H4 trồng cây bạch đàn trên đất, đến năm 2011 thì ông chuyển nhượng cho ông Trần Ngọc H khoảng 07ha đất với giá chuyển nhượng 40.000.000 đồng/ha (bao gồm cả cây bạch đàn), giữa ông và ông H chỉ làm giấy tờ mua bán viết tay, không được công chứng, chứng thực; giữa ông và ông H không thực hiện việc giao nhận đất cho nhau do trước đó ông H đã biết rõ về đất ông chuyển nhượng; ông không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Quang H1 trình bày:
Thửa đất số 05, tờ bản đồ số 00, diện tích 12.164m² tọa lạc tại thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 835319 ngày 22/6/2007 đứng tên ông Lê Quang H2, đăng ký biến động sang tên ông vào ngày 11/8/2017 và tài sản trên đất thuộc quyền sử dụng, sở hữu hợp pháp của ông. Năm 2017, ông chuyển nhượng cho ông Phan Văn P và đã trực tiếp đến thực địa để giao đất này cho ông Phan Văn P quản lý, sử dụng. Nay ông không tranh chấp đối với tài sản này kể cả vấn đề phát sinh mới, việc tranh chấp đất và tài sản trên đất giữa ông Phan Văn P và ông Trần Ngọc H ông yêu cầu Tòa án giải quyết theo pháp luật. Ngoài ra, ông yêu cầu Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt ông cho đến khi vụ án kết thúc; ông xác định không yêu cầu độc lập trong vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2023/DS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 9 và khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 157, Điều 165, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Các Điều 133, 163, 164, 166 Bộ luật dân sự năm 2015;
Các Điều 95, 166, 167, 168, 188 Luật Đất đai năm 2013.
Khoản 2 Điều 26 và điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn P về việc “Tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản trên đất” với ông Trần Ngọc H và bà Huỳnh Thị Như T1.
- Buộc ông Trần Ngọc H và bà Huỳnh Thị Như T1 có nghĩa vụ trả cho ông Phan Văn P và bà Nguyễn Thị Kim T diện tích 11.982,3m² đất (là loại đất trồng cây lâu năm) và toàn bộ tài sản trên đất gồm: 400 cây bạch đàn tái sinh và 01 giếng khoan tọa lạc tại thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận đã được Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 835319 ngày 22/6/2007 đứng tên ông Lê Quang H2, đăng ký biến động sang tên ông Phan Văn P ngày 23/11/2017.
(Kèm theo Mảnh chỉnh lý thửa đất ngày 06/02/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ)
Ông Phan Văn P và bà Nguyễn Thị Kim T có quyền liên hệ với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký biến động về đất đai theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí tố tụng: ghi nhận sự tự nguyện của ông Phan Văn P về việc chịu toàn bộ chi phí tố tụng, ông Phan Văn P đã thực hiện xong.
- Về án phí:
Ông Phan Văn P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Phan Văn P số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 001752 ngày 29/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
Ông Trần Ngọc H và bà Huỳnh Thị Như T3 phải liên đới chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Trần Ngọc H phát biểu ý kiến, Bản án số 12/2023/DS-ST ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, đề nghị chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn, tuyên hủy bản án sơ thẩm, từ những căn cứ sau:
Tòa án cấp sơ thẩm có dấu hiệu vi phạm tố tụng: Diện tích đất tranh chấp trong vụ án là của ông Trương Ngọc L mua của bà Nguyễn Thị H3 vào năm 2010, có bản cam kết hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất kèm theo cũng như lời khai của ông L có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay, đều thể hiện sự thật đất của ông L mua của bà H3. Đến năm 2011 ông H nhận chuyển nhượng đất bằng giấy tay từ ông Trương Ngọc L có tổng diện tích đất khoảng 65.000m², trong đó có diện tích đất tranh chấp 11.982,3m². Trong quá trình giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm, bị đơn đã nhiều lần yêu cầu Tòa án triệu tập bà Nguyễn Thị H3, ông Bùi Văn C (là người bán đất cho bà H3 và là người quản lý đất cho bà H3) nhưng không được tòa sơ thẩm triệu tập để lấy lời khai, đối chất, tham gia tố tụng làm rõ sự thật khách quan của vụ án;
Tài sản trên đất (cây bạch đàn) do ông Trương Ngọc L trồng, có nhân chứng, vật chứng từ các ông Vũ Xuân T2, Vũ Xuân H4 là những người bán cây giống, nhận công trồng cây cho ông L, khi bán đất ông L đã bán cây cho ông H, ông H tiếp tục chăm sóc cây tái sinh, có bỏ ra công sức tôn tạo, giữ gìn đất; bị đơn là bên thứ ba ngay tình nhưng không được xem xét đến công sức, tài sản thuộc sở hữu của ông H là không đảm bảo quyền lợi cho ông H.
Diện tích đất nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả có thể không phải là vị trí đất nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Bị đơn thống nhất ý kiến trình bày của Luật sư.
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Ngọc L cho rằng, ông là người bán đất cho ông Trần Ngọc H vào ngày 12/02/2011 là đúng sự thật. Đất này có nguồn gốc ông mua của bà Nguyễn Thị H3 vào ngày 28/6/2010. Bà H3 mua lại của những người khác rồi bán lại cho ông.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đúng quy định; người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật. Đương sự vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền; người liên quan (Lê Quang H1) đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, đồng thời trong hồ sơ vụ án có yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt nên đề nghị tiến hành phiên tòa.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra tại phiên tòa xét thấy bản án sơ thẩm tuyên có căn cứ, kháng cáo của bị đơn không có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, Luật sư, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- [1] Bị đơn ông Trần Ngọc H kháng cáo trong thời hạn và đúng quy định của pháp luật nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim T và bà Huỳnh Thị Như T1 vắng mặt nhưng đều có ủy quyền hợp pháp; ông Lê Quang H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng ông vắng mặt. Người tham gia tố tụng có mặt và Kiểm sát viên đề nghị tiến hành phiên tòa. Căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên tòa xét xử vụ án.
- [3] Theo đơn khởi kiện của ông Phan Văn P, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 9, khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [4] Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn và bị đơn cho rằng, trong quá trình giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm bị đơn đã nhiều lần yêu cầu Tòa án triệu tập bà Nguyễn Thị H3 và ông Bùi Văn C để lấy lời khai, đối chất, tham gia tố tụng làm rõ sự thật khách quan của vụ án nhưng không được tòa chấp nhận. Nhận thấy, tại hồ sơ vụ án bà Nguyễn Thị H3 đã có bản tự khai đề ngày 20/12/2019 và Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã triệu tập bà H3 đến lấy lời khai vào ngày 12/8/2019, ý kiến bà H3 cho rằng bà không chuyển nhượng đất, không biết, không liên quan gì đến việc bà chuyển nhượng đất cho ông Trương Ngọc L rồi ông L chuyển nhượng đất lại cho ông Trần Ngọc H. Nên Tòa án cấp sơ thẩm không triệu tập các ông bà này tham gia tố tụng, thì việc giải quyết vụ án vẫn đảm bảo tính khách quan, toàn diện, không làm thay đổi bản chất và nội dung của vụ án.
- [5] Trong vụ án này, nguyên đơn ông Phan Văn P và bị đơn ông Trần Ngọc H đều cho rằng diện tích đất 12.164 m² (đo đạc thực tế 11.982,3m²) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ông H và ông L đều thừa nhận việc chuyển nhượng đất giữa hai bên là giấy viết tay, vì đất chưa được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình sử dụng đất ông L và ông H không kê khai, đăng ký đất và đến nay chưa được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông L hoặc ông H.
Ông H cho rằng, thửa đất số 05, tờ bản đồ số 00, diện tích 12.164m² (đo đạc thực tế 11.982,3m²) tọa lạc tại thôn D, xã H, huyện H thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông. Ông cung cấp và chứng minh đất của ông có nguồn gốc từ bà Nguyễn Thị H3 nhận chuyển nhượng đất của người khác rồi chuyển nhượng cho ông Trương Ngọc L (Viết tay photo) ngày 12/02/2011; các “Bản cam kết hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất” (photo) giữa bà H3 với ông Trương Ngọc L vào ngày 28/6/2010, giữa ông Nguyễn Hồng P2 với bà Nguyễn Thị H3 vào ngày 12/9/2017 và ngày 05/9/2017; giữa ông Nguyễn Văn L2 với bà Nguyễn Thị H3 vào ngày 02/9/2007; giữa bà Trần Thị T4 với bà Nguyễn Thị H3 vào ngày 26/8/2007; giữa ông Bùi Văn C với bà Nguyễn Thị H3 vào ngày 12/9/2007 và ngày 05/8/2007. Ngoài ra, còn có lời khai của ông L xác nhận có chuyển nhượng đất cho ông H.
Lời khai của ông L cho rằng, vào năm 2010 ông có nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị H3 gần 10 hecta đất (hai bên có làm hợp đồng sang nhượng ngày 28/6/2010), sau đó ông chuyển nhượng lại cho ông H khoảng 07 hecta (trong 10 hecta trên, hai bên có viết giấy tay vào ngày 12/02/2011). Đất của bà H3 chuyển nhượng cho ông là do bà H3 mua của các ông bà Nguyễn Văn L2, Nguyễn Hồng P2, Trần Thị T4 và Bùi Văn C. Ông xác định diện tích đất đang tranh chấp nằm trong một phần diện tích đất ông mua của bà H3 rồi bán lại cho ông H.
Xét lời khai của ông L và ông H và tài liệu cung cấp nhận thấy, tại “Bản cam kết hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất” thì ông L có nhận chuyển nhượng của bà H3 một thửa đất có diện tích 9,5ha, tọa lạc tại xã H, huyện H; còn các thửa đất bà H3 nhận chuyển nhượng từ các ông bà Nguyễn Văn L2, Nguyễn Hồng P2, Trần Thị T4 và Bùi Văn C đều thể hiện diện tích đất sang nhượng tại “Bưng Bún Kiếm” và “Bưng Kè Kè”. Qua xác minh thì “Bưng Bún K” thuộc thôn P, xã H, huyện H, còn “Bưng Kè Kè” thuộc thôn P, xã H, huyện H. Trong khi đó diện tích đất tranh chấp giữa ông Trần Ngọc H và ông Phan Văn P thuộc thôn D, xã H, huyện H.
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 26/02/2020 ông L cho rằng, ông mua đất của bà H3 gần 10 hecta tại khu vực xã H (bút lục 230); tại biên bản lời khai ngày 03/5/2019 (bút lục 341-342) ông L khai ông có chuyển nhượng lại đất của bà H3 ở “Bào Óc” khoảng 10 hecta tại xã H, huyện H. Hơn nữa, ông L cũng khẳng định khi ông L nhận chuyển nhượng đất từ bà H3 thì bà H3 không trực tiếp giao đất mà do ông Bùi Văn C giao; ông L không biết chính xác địa chỉ cụ thể thửa đất tọa lạc ở đâu mà chỉ biết thuộc xã H hoặc xã H, không xác định được tự cân thửa đất đã nhận chuyển nhượng từ bà H3. Việc chuyển nhượng đất cho ông H, ông L khai có đến thực địa để giao đất, có khi lại khai không trực tiếp giao đất trên thực địa cho ông H (bút lục 341-342); ông H cũng không xác định được vị trí tự cân hoặc địa chỉ cụ thể của thửa đất, trong giấy sang nhượng đất chỉ ghi đất ông L mua của bà H3 rồi bán lại cho ông H mà không thể hiện địa chỉ của thửa đất bán cho ông H ở đâu nên không có căn cứ để xác định vị trí, địa chỉ thửa đất chuyển nhượng ở đâu. Do đó, không có căn cứ để xác định diện tích đất ông L nhận chuyển nhượng từ bà H3, sau đó chuyển nhượng lại cho ông H là diện tích đất 11.982,3m² mà ông P đang tranh chấp với ông Hoàng 1 cùng một thửa đất.
Bà Nguyễn Thị H3 khai tại Tòa án cấp sơ thẩm, bà không chuyển nhượng đất, không biết, không liên quan gì đến việc bà chuyển nhượng đất cho ông Trương Ngọc L rồi ông L chuyển nhượng đất lại cho ông Trần Ngọc H. Bà H3 không làm chứng và Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà H3 vào tham gia tố tụng trong vụ án là có căn cứ pháp luật.
Đối với người làm chứng ông Nguyễn Kim L1 khai, ông không biết việc mua bán đất giữa bà H3 và ông L, ông chỉ là người giới thiệu cho ông L mua đất của bà H3, còn việc mua bán như thế nào ông không được biết (bút lục 231).
Ông H cho rằng, ông quản lý, sử dụng đất ổn định, liên tục từ năm 2011 đến nay, nhưng trên thực tế ngoài số cây bạch đàn đã có sẵn trên đất thì ông không canh tác nông nghiệp hay xây dựng công trình gì trên đất. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ hai lần đối với đất và tài sản trên đất, nhưng ông H đều xác định ranh giới đất khác nhau và cho kết quả đo đạc khác nhau, không có sự thống nhất về diện tích và ông H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh nên không có cơ sở để xác định ông H sử dụng đất ổn định và không có căn cứ để xác định vị trí diện tích đất 11.982,3m² đang tranh chấp có cùng vị trí diện tích đất 07 hecta mà ông H đã nhận chuyển nhượng từ ông L. Mặt khác, vào năm 2007 đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Quang H2, là trước thời điểm ông L nhận chuyển nhượng đất từ bà H3. Do đó, ông H cho rằng diện tích 11.982,3m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông H là không có căn cứ để chấp nhận.
Ngược lại, để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của ông P là có căn cứ và hợp pháp, ông P đã cung cấp cho Tòa án Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 835319 ngày 22/6/2007 đứng tên ông Lê Quang H2, đến ngày 11/8/2017 để thừa kế cho ông Lê Quang H1, đến ngày 23/11/2017 chuyển nhượng cho ông P nên Tòa án xác định nghĩa vụ chứng minh của ông P đã hoàn thành và được Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông.
Ngoài ra, xét quá trình sử dụng đất từ khi ông H2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó để thừa kế cho ông H1 không có ai tranh chấp, không bị cơ quan quản lý đất đai ở địa phương thu hồi hay hủy bỏ giấy chứng nhận đã cấp, thủ tục chuyển quyền sử dụng đất là hợp pháp theo pháp luật đất đai. Việc thực hiện thủ tục khai nhận thừa kế mà các đồng thừa kế của ông H2 cho ông H1 đến nay không có tranh chấp, khiếu nại, không có bản án, quyết định nào của Tòa án tuyên bố việc khai nhận thừa kế liên quan đến thửa đất này bị vô hiệu; thời điểm ông P nhận chuyển nhượng đất thì ông H1 đang là người sử dụng đất hợp pháp, công khai, giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H1 và ông P được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, đã được đăng ký biến động sang tên ông P từ năm 2017. Hơn nữa, ông P là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất, khai thác cây trồng trên đất và đào giếng khoan trên đất, điều này cũng được ông H thừa nhận (bút lục 330).
Tại văn bản số 189/CVPĐKĐĐHTN ngày 01/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ và Công văn số 182/UBND-TNMT ngày 23/01/2019 của Ủy ban nhân dân huyện H đã xác định vị trí đất đang tranh chấp trong vụ án theo kết quả đo đạc so với vị trí thửa đất số 05, tờ bản đồ số 00, diện tích 12.164 m² tọa lạc tại thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 835319 ngày 22/6/2007 đứng tên ông Lê Quang H2, để thừa kế cho ông Lê Quang H1, sau đó chuyển nhượng ông Phan Văn P vào ngày 23/11/2017 là cùng một vị trí. Điều đó chứng tỏ, ông P nhận đất từ ông H1 đúng vị trí và sử dụng đủ diện tích thửa đất nhận chuyển nhượng từ ông H1.
Từ những nhận định trên, có đủ căn cứ theo pháp luật đất đai để xác định diện tích 12.164m² đất (đo đạc thực tế 11.982,3m²) đang tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông P và bà T. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ pháp luật để chấp nhận và buộc ông H và bà T1 phải trả lại diện tích đất 11.982,3m² tọa lạc tại thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận cho ông P và bà T.
- [6] Ông P và ông H đều thừa nhận khi nhận chuyển nhượng đất thì trên đất đã trồng bạch đàn và hiện còn 400 cây bạch đàn tái sinh và 01 giếng khoan trên đất, nên Tòa án xác định số cây bạch đàn này không phải do ông H hay ông P trồng.
Ông H cho rằng, trong Giấy sang nhượng đất năm 2011 ông và ông L chỉ chuyển nhượng đất nhưng hai bên ngầm hiểu là chuyển nhượng cả bạch đàn trên đất (bút lục 331); lúc mua đất thì cây bạch đàn đã hơn một tuổi (bút lục 476). Tuy nhiên, lời khai của ông H lại không phù hợp và mâu thuẫn về mặt thời gian và độ tuổi của cây bạch đàn với lời khai của ông L, cụ thề ông L khai ông đầu tư và trồng bạch đàn trên đất vào nhiều thời điểm khác nhau: trồng vào mùa mưa năm 2011 (bút lục 231); trồng vào năm 2007-2008 (bút lục 283); trồng năm 2010 rồi quản lý khoảng 4 năm đến 05 năm, đến năm 2015 thì chuyển nhượng cho ông H (bút lục 342-341); khi chuyển nhượng đất cho ông H thì cây bạch đàn đã từ 4 tuổi đến 5 tuổi (bút lục 342-341); cây bạch đàn khoảng 2 đến 3 tuổi (bút lục 476). Còn ông Vũ Xuân T2 và ông Vũ Xuân H4 đều khẳng định là việc cung cấp cây giống và trồng bạch đàn cho ông L tại thôn D, xã H vào năm 2010.
Ngoài ra, tại thời điểm ông L cho rằng ông thuê người trồng bạch đàn thì thửa đất đã được Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Quang H2, khi sang tên cho ông H1 và ông H1 chuyển nhượng đất cho ông P thì cây bạch đàn đã tồn tại sẵn trên đất. Ông P đã nhận chuyển nhượng đất và tài sản trên đất, điều này được ông H1 xác nhận và thể hiện trong giấy mua bán viết tay giữa ông H1 và ông P.Trong khi ông L cũng như ông H không có giấy tờ gì về đất.
Từ những nhận định trên không có căn cứ pháp luật để chấp nhận lời trình bày của ông L và ông H cho rằng ông L là người đầu tư, trồng bạch đàn trên đất tranh chấp. Do đó, yêu cầu của ông P buộc ông H và bà T1 phải trả 400 cây bạch đàn tái sinh và 01 giếng khoan trên diện tích đất 11.982,3m² là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [7] Trong vụ án, bị đơn ông H không có yêu cầu phản tố. Ông H chỉ có ý kiến cho rằng đất và tài sản trên đất thuộc quyền sử dụng, sở hữu hợp pháp của ông nhưng ông không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh ông đã giữ gìn, tôn tạo đất tranh chấp nên không có cơ sở để Tòa án xem xét tính công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo tài sản hoặc bồi thường thiệt hại về tài sản như ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông.
- [8] Từ nhận định trên, xét thấy kháng cáo của bị đơn ông Trần Ngọc H và quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông H là không có căn cứ để hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận, như quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp.
- [9] Tòa án cấp phúc thẩm xác định cụ thể lại số hiệu điểm, tọa độ và cự ly thể hiện vị trí diện tích đất tranh chấp 11.982,3m² (trên cơ sở của Mảnh chỉnh lý thửa đất ngày 06/02/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ) theo Mảnh trích lục thửa đất ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ. Việc xác định lại không làm thay đổi diện tích, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các đương sự nên không cần thiết phải sửa bản án sơ thẩm.
- [10] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- [11] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Ngọc H.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2023/DS-ST ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
Căn cứ:
Khoản 9 và khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 157, Điều 165, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Các Điều 133, 163, 164, 166 Bộ luật dân sự năm 2015;
Các Điều 95, 166, 167, 168, 188 Luật Đất đai năm 2013.
Khoản 2 Điều 26 và điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn P về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất” với ông Trần Ngọc H và bà Huỳnh Thị Như T1.
- Buộc ông Trần Ngọc H và bà Huỳnh Thị Như T1 phải trả cho ông Phan Văn P và bà Nguyễn Thị Kim T diện tích 11.982,3m² đất trồng cây lâu năm (có vị trí tọa độ thể hiện tại Mảnh trích lục thửa đất ký ngày 29/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ) tại thửa đất số 05, tờ bản đồ số 00, địa chỉ thửa đất thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp cho ông Lê Quang H2 ngày 22/6/2007, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 835319, được Chi nhánh Văn phòng Đ thuộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B đăng ký cập nhật biến động vào ngày 23/11/2017 cho chủ sử dụng đất là ông Phan Văn P và toàn bộ 400 (bốn trăm) cây bạch đàn tái sinh và 01(một) giếng khoan gắn liền trên thửa đất.
Ông Phan Văn P và bà Nguyễn Thị Kim T có quyền liên hệ với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký biến động về đất đai theo quy định của pháp luật.
(Kèm theo bản án này có bản sao Mảnh trích lục thửa đất ký ngày 29/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ).
- Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Phan Văn P về việc chịu toàn bộ chi phí tố tụng, ông Phan Văn P đã thực hiện xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Phan Văn P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Phan Văn P số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 001752 ngày 29/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
Ông Trần Ngọc H và bà Huỳnh Thị Như T1 phải liên đới chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Ông Trần Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0013454 ngày 09 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam. Ông Trần Ngọc H đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
- Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (03/11/2023).
Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phong Lan |
Bản án số 152/2023/DS-PT ngày 03/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất
- Số bản án: 152/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn P kiện Trần Ngọc H về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất”
