TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 152/2025/KDTM-PT Ngày: 29/5/2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Đoan Trang
Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Quỳnh Trâm
Bà Mai Thị Thanh Tú
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Kim Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 28/2025/TLPT-KDTM ngày 11 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do bản án sơ thẩm số 32/2024/KDTM-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1857/2025/QĐPT-KDTM ngày 01 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5953/2025/QĐ-HPT ngày 29/4/2025, giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng N1
Trụ sở: H L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội
Địa chỉ liên hệ: Ngân hàng N1 – Chi nhánh G, số A P, Phường D, quận G. TPHCM
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Việt H, sinh năm 1977; địa chỉ liên hệ: Số A P, Phường A, quận G. TP H (Giấy ủy quyền số 1005/GUQ-NHNo.GĐ-TH ngày 28/5/2025)
Bị đơn: Công ty TNHH T3
Trụ sở: Số A T, Phường C, Quận E, TP H
1
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1985; trú tại: 4. P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ; chỗ ở hiện tại: 429/3 KV. P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (nay thay đổi địa giới hành chính thành: 429/3 KV T, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Quách Khánh T, sinh nắm 1965
Trú tại: Số B T, Phường F, Quận A, TP H
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Quách Khánh H1, sinh năm 1969; trú tại: Số B T, Phường F, Quận A, TP H
- Bà Huỳnh Tuyết M, sinh năm 1944
- Bà Quách Khánh P, sinh năm 1970
- Ông Quách Khánh C1, sinh năm 1971
- Ông Quách Khánh P1, sinh năm 1967
- Bà Mai Thị Mỹ N, sinh năm 1972
- Ông Quách Khánh T1, sinh năm 1996
- Ông Quách Khánh Đ, sinh năm 2001
- Ông Quách Khánh V1, sinh năm 1977
- Bà Nguyễn Thị Tú O, sinh năm 1978
- Trẻ Quách Khánh B, sinh năm 2008 (có ông Quách Khánh V1 và bà Nguyễn Thị Tú O là cha mẹ ruột làm đại diện theo pháp luật)
Cùng trú tại: Số B T, Phường F, Quận A, TP H
- Bà Quách Khánh P – Chủ hộ kinh doanh Cơm Chay 22 Trần Quý
Địa chỉ: Số B T, Phường F, Quận A, TP H
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Quách Khánh H1, sinh năm 1969; trú tại: Số B T, Phường F, Quận A, TP H
Người kháng cáo: Bà Quách Khánh T.
(Đại diện nguyên đơn, đại diện của bà Quách Khánh T và đại diện bà Quách Khánh P có mặt tại phiên toà. Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của bản án sơ thẩm như sau:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/9/2020 của Ngân hàng N1 (sau đây viết tắt là A), người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 25/12/2019, Công ty TNHH T3 (sau đây viết tắt là Công ty T3) ký kết với Ngân hàng N1 (A) – Chi nhánh G hợp đồng tín dụng số: 6400-LAV-201902134 theo phương thức hạn mức tín dụng với tổng số tiền cấp hạn mức tín dụng là: 30.000.000.000 đồng (Ba mươi tỷ đồng). Thời hạn hiệu lực hạn mức tín dụng: 12
2
tháng. Lãi suất tiền vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng đối với Việt Nam đồng là: 8.5%/năm (Lãi suất được tính theo từng thời điểm nhận nợ); Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.
Ngày 31/12/2019, A – Chi nhánh G giải ngân cho Công ty T3 số tiền 10.078.266.000 đồng theo Giấy nhận nợ số 6400-LDS-201903029. Thời hạn trả nợ gốc là 30/06/2020.
Ngày 03/01/2020, A– Chi nhánh G giải ngân cho Công ty T3 số tiền 4.918.980.000 đồng theo Giấy nhận nợ số 6400-LDS-202000005. Thời hạn trả nợ gốc là 03/07/2020.
Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và các nghĩa vụ có liên quan của Công ty T3 theo Hợp đồng tín dụng số 6400-LAV-201902134 ngày 25/12/2019, các bên đã thống nhất tài sản thế chấp sau:
- - Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tọa lạc tại địa chỉ số B T, Phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 3 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 015102 có số vào số cấp GCN: CH00156 do Ủy ban nhân dân Quận A1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/01/2011 cho bà Huỳnh Tuyết M là người đại diện của những người được thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, cập nhật thay đổi chuyển nhượng cho bà Quách Khánh T ngày 21/12/2015 theo Hợp đồng thế chấp số 6400-LCP-201902277 ngày 31/12/2019 được ký kết giữa bên nhận thế chấp A - Chi nhánh G với bên thế chấp bà Quách Khánh T, đã được công chứng tại Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 022660, quyển số 12 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/12/2019; đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đ1, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 31/12/2019.
Thực hiện hợp đồng, Công ty T3 đã không thanh toán đúng thời hạn đã ký kết theo các giấy nhận nợ của Hợp đồng tín dụng số 6400-LAV-201902134 ngày 25/12/2019.
Tính đến ngày 31/8/2020, tổng dư nợ của Công ty T3 tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) là 15.602.638.453 đồng, cụ thể: Nợ gốc 14.997.246.000 đồng; nợ lãi tạm tính đến ngày 31/8/2020 là 605.392.453 đồng, trong đó nợ lãi trong hạn: 498.842.937 đồng, nợ lãi quá hạn: 106.549.516 đồng.
A đã tạo rất nhiều điều kiện cho Công ty T3 trả nợ nhưng Công ty T3 vẫn không thanh toán đầy đủ các khoản nợ gốc và lãi phát sinh như đã cam kết. Nay, A khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết:
- - Buộc Công ty T3 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ (gốc và lãi) cho A số tiền tạm tính đến ngày 31/8/2020 là: 15.602.638.453 đồng, cụ thể: Nợ gốc 14.997.246.000 đồng; nợ lãi tạm tính đến ngày 31/8/2020 là 605.392.453 đồng, trong đó nợ lãi trong hạn: 498.842.937 đồng, nợ lãi quá hạn: 106.549.516 đồng;
- Buộc Công ty T3 phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 01/9/2020 cho đến ngày thực tế Công ty T3 trả hết nợ gốc cho A theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên;
3
- - Trường hợp Công ty T3 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì A có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số 6400-LCP-201902277 ngày 31/12/2019, số công chứng 022660, quyển số 12 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ cho A. A được quyền ưu tiên thanh toán các khoản nợ từ việc xử lý tài sản thế chấp nêu trên;
- Trường hợp, số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho A thì A có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty T3 để thu hồi nợ.
Bị đơn Công ty T3 (có ông Nguyễn Văn C, chức vụ: Giám đốc là người đại diện theo pháp luật) và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án gồm: Bà Quách Khánh T, ông Quách Khánh T1, ông Quách Khánh Đ, ông Quách Khánh V1, bà Nguyễn Thị Tú O, trẻ Quách Khánh B (có ông Quách Khánh V1 và bà Nguyễn Thị Tú O, cha mẹ ruột là người đại diện hợp pháp) mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình, không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến trình bày của bị đơn, của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (có tên nêu trên) đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại đang thực tế cư trú tại nhà số B T, Phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là ông Quách Khánh C1, bà Quách Khánh P, ông Quách Khánh P1, bà Mai Thị Mỹ N, bà Huỳnh Tuyết M thì: Tại Biên bản ghi lời khai ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Quách Khánh P đã có ý kiến trình bày: Bà xác nhận đang cư trú tại địa chỉ nhà số B T, Phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, bà có kinh doanh cơm chay và có đăng ký giấy phép Hộ kinh doanh Cơm Chay, chủ hộ kinh doanh là bà. Đối với yêu cầu khởi kiện của A về việc yêu cầu Công ty T3 trả nợ vay phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 6400-LAV-201902134 ngày 25/12/2019, đây là khoản vay của Công ty T3, bà không nắm rõ. Về việc chị gái bà là Quách Khánh T thế chấp nhà, đất số 22 T để đảm bảo cho khoản vay nêu trên của Công ty T3 thì bà có biết. Nay, gia đình bà sẽ ủy quyền cho bà Quách Khánh T thay mặt gia đình giải quyết khoản nợ vay này. Bà đề nghị Tòa án cho gia đình bà thêm thời gian để thu xếp nguồn tài chính nhằm trả nợ cho A.
Bà Huỳnh Tuyết M, ông Quách Khánh C1, ông Quách Khánh P1 và bà Mai Thị Mỹ N cũng thống nhất hoàn toàn với ý kiến trình bày nêu trên của bà Quách Khánh P, không có ý kiến trình bày bổ sung.
Ngoài ra, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Bà Huỳnh Tuyết M, bà Quách Khánh P, ông Quách Khánh C1, ông Quách Khánh P1 và bà Mai Thị Mỹ N cũng đã có đơn về việc đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt họ.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn Ngân hàng N1 trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết:
4
- - Buộc Công ty T3 có trách nhiệm thanh toán cho A số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 14/8/2024 phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số: 6400-LAV-201902134 ngày 25/12/2019, Giấy nhận nợ số 6400-LDS-201903029 ngày 31/12/2019 và Giấy nhận nợ số 6400-LDS-202000005 ngày 03/01/2020 là 23.289.623.276 (Hai mươi ba tỷ hai trăm tám mươi chín triệu sáu trăm hai mươi ba ngàn hai trăm bảy mươi sáu) đồng. Trong đó: Nợ gốc: 14.997.246.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 289.236.415 đồng; Nợ lãi quá hạn: 7.884.423.783 đồng; Nợ lãi chậm trả lãi: 118.717.079 đồng (Trong đó số tiền lãi chậm trả lãi theo Giấy nhận nợ số 6400-LDS-201903029 ngày 31/12/2019 là 89.090.586 đồng được tính từ ngày 01/7/2020 đến ngày 14/8/2024; Theo Giấy nhận nợ số 6400-LDS-202000005 ngày 03/01/2020 là 29.626.493 đồng được tính từ ngày 01/8/2020 đến ngày 14/8/2024).
- - Buộc Công ty T3 phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 15/8/2024 cho đến khi trả hết nợ cho A theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 6400-LAV-201902134 ngày 25/12/2019, Giấy nhận nợ số 6400-LDS-201903029 ngày 31/12/2019 và Giấy nhận nợ số 6400-LDS-202000005 ngày 03/01/2020.
Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần toàn bộ số tiền 23.289.623.276 đồng ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
- - Trường hợp Công ty T3 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho A thì A được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, gồm: Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ số B T, Phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 015102 có số vào sổ cấp GCN: CH00156 do Ủy ban nhân dân Quận A1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/01/2011 cho bà Huỳnh Tuyết M là người đại diện của những người được thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, cập nhật thay đổi chuyển nhượng cho bà Quách Khánh T ngày 21/12/2015 và theo Hợp đồng thế chấp số 6400-LCP-201902277 ngày 31/12/2019 được ký kết giữa A - Chi nhánh G với bà Quách Khánh T, đã được công chứng tại Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 022660, quyển số 12 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/12/2019; đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đ1, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 31/12/2019.
Tại phiên tòa, ông Quách Khánh H1 xác nhận bà Quách Khánh T có thế chấp tài sản là nhà, đất tại địa chỉ số B T, Phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 015102 có số vào sổ cấp GCN: CH00156 do Ủy ban nhân dân Quận A1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/01/2011 cho bà Huỳnh Tuyết M là người đại diện của những người được thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, cập nhật thay đổi chuyển nhượng cho bà Quách Khánh T ngày 21/12/2015 theo Hợp đồng thế chấp số 6400-LCP-201902277 ngày 31/12/2019 được ký kết giữa bên nhận thế chấp A - Chi nhánh G với bên thế chấp bà Quách Khánh T, đã được công chứng tại Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 022660, quyển sổ 12 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/12/2019 để đảm bảo cho khoản vay của Công ty H2 Nguồn gốc nhà, đất số 22 T là tài sản của mẹ ông là bà Huỳnh Tuyết M và những người được thừa kế trong gia đình ông nhưng sau đó đã cập nhật thay đổi về việc để
5
thừa kế cho bà Huỳnh Tuyết M vào ngày 20/6/2011 và cập nhật thay đổi chuyển nhượng cho bà Quách Khánh T đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (ngày 21/12/2015) nhằm thuận tiện cho các giao dịch có liên quan. Do có mối quan hệ quen biết, làm ăn chung và tin tưởng những người đứng đầu của Công ty T3 nên gia đình ông có bà Quách Khánh T đã đứng ra thế chấp tài sản nêu trên để đảm bảo cho khoản vay của Công ty T3 tại A. Gia đình ông đã không lường trước được việc Công ty T3 không có khả năng trả nợ để trả lại tài sản đã thế chấp cho gia đình ông. Công ty T3 hiện thực tế không còn hoạt động, ông cũng không còn liên hệ được với những người đứng đầu của Công ty H2 Nhưng đây là tài sản của cả gia đình nên ông H1 đề nghị A tạo điều kiện cho gia đình ông thêm thời gian để thu xếp nguồn tài chính đồng thời đề nghị A xem xét miễn, giảm tiền lãi của khoản vay để gia đình ông có khả năng trả nợ thay cho Công ty T3 nhằm giải chấp tài sản của gia đình.
Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 32/2024/KDTM-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 5 đã tuyên:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1.
Buộc Công ty TNHH T3 phải trả cho Ngân hàng N1 số tiền còn nợ (bao gồm nợ gốc và nợ lãi) tạm tính đến ngày 14/8/2024 phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số số 6400-LAV-201902134 ngày 25/12/2019, Giấy nhận nợ số 6400-LDS-201903029 ngày 31/12/2019 và Giấy nhận nợ số 6400-LDS-202000005 ngày 03/01/2020 là 23.289.623.276 (Hai mươi ba tỷ hai trăm tám mươi chín triệu sáu trăm hai mươi ba ngàn hai trăm bảy mươi sáu) đồng. Trong đó: Tiền nợ gốc: 14.997.246.000 đồng; tiền lãi trong hạn: 289.236.415 đồng; tiền lãi quá hạn: 7.884.423.783 đồng; tiền lãi chậm trả lãi: 118.717.079 đồng.
Lãi tiếp tục được tính kể từ ngày 15/8/2024 cho đến khi Công ty TNHH T3 trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số số 6400-LAV-201902134 ngày 25/12/2019, Giấy nhận nợ số 6400-LDS-201903029 ngày 31/12/2019 và Giấy nhận nợ số 6400-LDS-202000005 ngày 03/01/2020. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà Công ty TNHH T3 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật mà Công ty TNHH T3 thanh toán hết toàn bộ số nợ (gốc và lãi) thì Ngân hàng N1 có trách nhiệm hoàn trả lại bản chính các giấy tờ pháp lý liên quan đến tài sản thế chấp cho bên thế chấp bà Quách Khánh T, gồm:
- + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA015102, số vào sổ cấp GCN: CH00156 do Ủy ban nhân dân Quận A1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/01/2011 cho bà Huỳnh Tuyết M là người đại diện của những người được thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; cập nhật thay đổi chuyển nhượng cho bà Quách Khánh T ngày 21/12/2015;
- + Thông báo về việc nộp lệ phí trước bạ nhà, đất số H201510506/TB-CCT-TBA ngày 16/02/2015 của Chi cục thuế Q, Thành phố Hồ Chí Minh;
6
- + Văn bản thỏa thuận tài sản riêng của bà Quách Khánh T được công chứng tại Văn phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 27020, quyển số 12 ngày 14/12/2015.
Trong trường hợp Công ty TNHH T3 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ (bao gồm nợ gốc và nợ lãi) thì Ngân hàng N1 được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng gồm:
- - Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ số B T, Phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 015102 có số vào sổ cấp GCN: CH00156 do Ủy ban nhân dân Quận A1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/01/2011 cho bà Huỳnh Tuyết M là người đại diện của những người được thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; cập nhật thay đổi chuyển nhượng cho bà Quách Khánh T ngày 21/12/2015 và theo Hợp đồng thế chấp số 6400-LCP-201902277 ngày 31/12/2019 được ký kết giữa bên thế chấp bà Quách Khánh T và bên nhận thế chấp Ngân hàng N1 - Chi nhánh G, đã được công chứng tại Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 022660, quyển số 12 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/12/2019, đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 31/12/2019 tại Chi nhánh Văn phòng Đ1, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về án phí; chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; chi phí khác:
- - Về án phí: Công ty TNHH T3 phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 131.289.623 (Một trăm ba mươi mốt triệu hai trăm tám mươi chín ngàn sáu trăm hai mươi ba) đồng.
Ngân hàng N1 được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 61.801.319 (Sáu mươi mốt triệu tám trăm lẻ một ngàn ba trăm mười chín) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0036412 ngày 17 tháng 3 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- - Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Công ty TNHH T3 phải hoàn trả lại cho Ngân hàng N1 chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000 (mười triệu) đồng. Đôi bên tự hoàn tiền hoặc thực hiện tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về chi phí tống đạt trên phương tiện thông tin đại chúng: Ngân hàng N1 tự nguyện chịu toàn bộ nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 26/9/2024, ông Quách Khánh H1 đại diện theo ủy quyền của bà Quách Khánh T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét lại và sửa bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm:
7
Ông Quách Khánh H1 trình bày ông không đồng ý đối với nội dung bản án sơ thẩm tuyên buộc Công ty T3 trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng A với số tiền là 23.289.623.276 đồng. Theo ông H1 được biết thì Công ty T3 đã trả một phần nợ cho A nhưng Toà án không đối chiếu công nợ. Đối với tài sản thế chấp là căn nhà số B T, Phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, ông H1 cũng không đồng ý phát mãi để thanh toán khoản nợ cho Công ty H2 Lý do nguồn gốc của căn nhà nêu trên thuộc quyền sở hữu của bà Huỳnh Thị Tuyết M và những đồng thừa kế. Gia đình ông H1 đã đồng ý để cho bà Quách Khánh T đứng tên giùm trên giấy chứng nhận để thuận tiện cho các giao dịch có liên quan. Sau đó, do có mối quan hệ quen biết nên bà T đã dùng tài sản để thế chấp để đảm bảo cho khoản nợ vay của Công ty H2 Do đó, tại phiên toà phúc thẩm, ông H1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân Quận 5.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1 Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì việc khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại. Bị đơn có địa chỉ tại Quận E nên Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Quách Khánh T kháng cáo bản án sơ thẩm nên thẩm quyền giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa Kinh tế - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ theo Điều 38 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2]. Về việc xét xử vắng mặt các đương sự:
- - Đối với Công ty TNHH T3 và người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Văn C: Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Tại phiên toà hôm nay, Công ty T3 và ông C vắng mặt lần thứ 2 không rõ lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với Công ty T3 và người đại diện theo pháp luật của công ty.
- - Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông bà: Huỳnh Tuyết M, Quách Khánh P, Quách Khánh C1, Quách Khánh P1, Mai Thị Mỹ N, Quách
8
Khánh T1, Quách Khánh Đ, Quách Khánh V1, Nguyễn Thị Tú O, trẻ Quách Khánh B, sinh năm 2008 (có ông Quách Khánh V1 và bà Nguyễn Thị Tú O là cha mẹ ruột làm đại diện theo pháp luật) đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ nêu trên.
[3]. Về nội dung:
[3.1] Đối với khoản nợ gốc và lãi:
Xét yêu cầu kháng cáo của ông Quách Khánh H1 - đại diện theo uỷ quyền của bà Quách Khánh T, Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi Toà án nhân dân Quận 5 thụ lý đơn khởi kiện và giải quyết vụ án, bị đơn và người đại diện pháp luật của bị đơn vắng mặt và không gửi văn bản trình bày ý kiến cũng như các chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp để giải quyết vụ án. Căn cứ vào hợp đồng tín dụng số 6400-LAV-201902134 ngày 25/12/2019, giấy nhận nợ, giấy giải ngân có chữ ký của ông Nguyễn Văn C là đại diện theo pháp luật của bị đơn, Hội đồng xét xử xác định bị đơn đã được ngân hàng giải ngân theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn không thực nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi theo cam kết. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ gốc 14.997.246.000 đồng cùng các khoản nợ lãi gồm lãi trong hạn: 289.236.415 đồng, lãi quá hạn: 7.884.423.783 đồng, lãi chậm trả lãi: 118.717.079 đồng. Do đó, bản án sơ thẩm tuyên buộc bị đơn là Công ty T3 phải trả nợ gốc và lãi cho nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật. Tại phiên toà phúc thẩm, ông H1 không cung cấp được chứng cứ về việc Công ty T3 đã thanh toán một phần khoản nợ nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét yêu cầu kháng cáo này của ông H1.
[3.2] Đối với yêu cầu kháng cáo về việc giải quyết tài sản thế chấp:
Tại đơn kháng cáo và tại phiên toà, ông H1 trình bày căn nhà B T, Phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu của gia đình ông H1 nên không đồng ý phát mãi tài sản để ngân hàng thu hồi nợ.
Căn cứ Giấy chứng nhận nhà đất số CH00156 ngày 04/01/2011 do A1 cấp cho bà Huỳnh Tuyết M. Đến ngày 20/6/2011, cập nhật thay đổi với nội dung để thừa kế cho bà Huỳnh Tuyết M. Tiếp tục đến ngày 21/12/2015, cập nhật thay đổi với nội dung chuyển nhượng cho bà Quách Khánh T. Đồng thời, tại Văn bản thỏa thuận tài sản riêng được công chứng ngày 14/12/2015 thể hiện: Ông Huỳnh Anh T2 (chồng bà Quách Khánh T) xác nhận nhà, đất B T, Phường F, Quận A là tài sản riêng của bà T nhận chuyển nhượng hoàn toàn bằng tiền riêng của bà T nên bà T được toàn quyền định đoạt đối với tài sản này. Ông T2 cam kết không tranh chấp khiếu nại gì. Như vậy, căn cứ vào nội dung cập nhật tại Giấy chứng nhận nhà đất số CH00156 ngày 04/01/2011, có cơ sở xác định bà Quách Khánh T là chủ sở hữu đối với nhà và đất tại địa chỉ B T, Phường F, Quận A. Bà T dùng tài sản thuộc sở hữu của bà để thế chấp đảm bảo khoản vay cho Công ty T3 theo Hợp đồng thế chấp số 6400-LCP-201902277 ngày 25/12/2019 và đăng ký bảo đảm ngày 31/12/2019 là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 317 Bộ luật dân sự 2015.
9
Vì vậy, trong trường hợp Công ty T3 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn nên giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân Quận 5, buộc bị đơn phải thanh toán khoản nợ gốc và lãi phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 6400-LAV-201902134 ngày 25/12/2019, đồng thời chấp nhận yêu cầu về xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
[4] Về án phí:
Người kháng cáo không được chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm căn cứ theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Quách Khánh T.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng Điều 30; Điều 38; Điều 148; điểm b, d khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1.
Buộc Công ty TNHH T3 phải trả cho Ngân hàng N1 số tiền còn nợ (bao gồm nợ gốc và nợ lãi) tạm tính đến ngày 14/8/2024 phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số số 6400-LAV-201902134 ngày 25/12/2019, Giấy nhận nợ số 6400-LDS-201903029 ngày 31/12/2019 và Giấy nhận nợ số 6400-LDS-202000005 ngày 03/01/2020 là 23.289.623.276 (Hai mươi ba tỷ hai trăm tám mươi chín triệu sáu trăm hai mươi ba ngàn hai trăm bảy mươi sáu) đồng. Trong đó: Tiền nợ gốc: 14.997.246.000 đồng; tiền lãi trong hạn: 289.236.415 đồng; tiền lãi quá hạn: 7.884.423.783 đồng; tiền lãi chậm trả lãi: 118.717.079 đồng.
Lãi tiếp tục được tính kể từ ngày 15/8/2024 cho đến khi Công ty TNHH T3 trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số số 6400-LAV-201902134 ngày 25/12/2019, Giấy nhận nợ số 6400-LDS-201903029 ngày 31/12/2019 và Giấy nhận nợ số 6400-LDS-202000005 ngày 03/01/2020. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà Công ty TNHH T3 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật mà Công ty TNHH T3 thanh toán hết toàn bộ số nợ (gốc và lãi) thì Ngân hàng N1 có trách nhiệm hoàn trả lại bản chính các
10
giấy tờ pháp lý liên quan đến tài sản thế chấp cho bên thế chấp là bà Quách Khánh T, gồm:
- + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA015102, số vào sổ cấp GCN: CH00156 do Ủy ban nhân dân Quận A1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/01/2011 cho bà Huỳnh Tuyết M là người đại diện của những người được thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; cập nhật thay đổi chuyển nhượng cho bà Quách Khánh T ngày 21/12/2015;
- + Thông báo về việc nộp lệ phí trước bạ nhà, đất số H201510506/TB-CCT-TBA ngày 16/02/2015 của Chi cục thuế Q, Thành phố Hồ Chí Minh;
- + Văn bản thỏa thuận tài sản riêng của bà Quách Khánh T được công chứng tại Văn phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 27020, quyển số 12 ngày 14/12/2015.
Trong trường hợp Công ty TNHH T3 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ (bao gồm nợ gốc và nợ lãi) thì Ngân hàng N1 được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng gồm:
- - Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ số B T, Phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 015102 có số vào sổ cấp GCN: CH00156 do Ủy ban nhân dân Quận A1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/01/2011 cho bà Huỳnh Tuyết M là người đại diện của những người được thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; cập nhật thay đổi chuyển nhượng cho bà Quách Khánh T ngày 21/12/2015 và theo Hợp đồng thế chấp số 6400-LCP-201902277 ngày 31/12/2019 được ký kết giữa bên thế chấp bà Quách Khánh T và bên nhận thế chấp Ngân hàng N1 - Chi nhánh G, đã được công chứng tại Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 022660, quyển số 12 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/12/2019, đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 31/12/2019 tại Chi nhánh Văn phòng Đ1, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về án phí, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; chi phí khác:
- - Về án phí: Công ty TNHH T3 phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 131.289.623 (Một trăm ba mươi mốt triệu hai trăm tám mươi chín ngàn sáu trăm hai mươi ba) đồng.
Ngân hàng N1 được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 61.801.319 (Sáu mươi mốt triệu tám trăm lẻ một ngàn ba trăm mười chín) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0036412 ngày 17 tháng 3 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- - Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Công ty TNHH T3 phải hoàn trả lại cho Ngân hàng N1 chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000 (mười triệu) đồng. Đôi bên tự hoàn tiền hoặc thực hiện tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
11
Về chi phí tống đạt trên phương tiện thông tin đại chúng: Ngân hàng N1 tự nguyện chịu toàn bộ nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
- - Bà Quách Khánh T phải chịu án phí phúc thẩm 2.000.000 (hai triệu), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0036312 ngày 02/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh nên không phải nộp thêm.
[4] Việc thi hành án được thực hiện tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Đoan Trang |
12
Bản án số 152/2025/KDTM-PT ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 152/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
