Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6- HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 152/2025/HSST

Ngày: 19/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6- HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Trồi; ông Nguyễn Cao Biền

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6- Hà Nội

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6- Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 139/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Đặng Văn T, sinh năm 1991; giới tính: Nam; Nơi ĐKTT: Bản Phiêng Đón, xã T, tỉnh Sơn La; chỗ ở trước khi bị bắt: số 8, ngách A, ngõ B, đường X, phường T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Văn V; con bà: Lý Thị Q; vợ: Bàn Thị M (đã ly hôn) và có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2017. D chỉ bản số 2749 lập ngày 11/9/2025 tại Trại tạm giam số 2 (PC11B).

Tiền án, tiền sự: Không;

Đầu thú, tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 01/9/2025

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H. Có mặt.

2. Nguyễn Văn T1, sinh năm 2001; giới tính: Nam; Nơi ĐKTT: thôn T, xã C, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở trước khi bị bắt: số 8, ngách A, ngõ B, đường X, phường T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn D1; con bà: Phạm Thị H; vợ, con: Chưa. D chỉ bản số 2747 lập ngày 11/9/2025 tại Trại tạm giam số 2 (PC11B).

Tiền án, tiền sự: Không;

Đầu thú, tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 01/9/2025

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H. Có mặt.

* Bị hại:

  1. Chị Phạm Thu H1, sinh năm 1990; Địa chỉ: Căn hộ S, HH2B, khu đô thị T, thành phố Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1977; Địa chỉ: Căn hộ S, khu tái định cư L, X, phường D, Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt.
  3. Anh Nguyễn Hưng T2, sinh năm 2006; Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường A, tỉnh Tuyên Quang. Chỗ ở: Lô đất khu C, phường Y, Thành phố Hà Nội. Có mặt.
  4. Công ty TNHH Q1 (gọi tắt là Công ty Q1).

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Hà N, sinh năm 1994 – Là cán bộ giám sát dịch vụ - Ban Q2; Địa chỉ: Số F đường P, phường P, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Phạm Thị S, sinh năm 1993; Địa chỉ: thôn T, xã C, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T1 và Đặng Văn T cùng làm thuê thi công các công trình xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội cho anh Ngô Khắc T3 (sinh năm 1991; trú tại thôn T, xã C, tỉnh Thanh Hóa). Do trước đây, T1 và T đã từng thi công các công trình nhà ở tại khu đô thị D, phường D, thành phố Hà Nội nên biết trên nóc các căn nhà này có lắp đặt các thanh đồng chống sét và hiện nhiều căn nhà vẫn chưa có người ở nên rủ nhau cùng trộm cắp các thanh đồng trên để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Khoảng 18 giờ ngày 31/8/2025, T1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Acruzo màu sơn xanh, biển kiểm soát 36B5-567.40 chở T đến khu vực phía sau căn nhà số P, Khu B, Đô thị D, phường D, thành phố Hà Nội để trộm cắp tài sản. Quan sát căn nhà trên thấy không có người ở và cổng phía sau không khóa nên T1 giấu xe máy trong sân sau. Tiếp đó, T1 cùng T đem theo 02 chiếc tuốc-nơ-vít, 02 bao tải đi bộ theo cầu thang và trèo theo đường ống nước lên nóc nhà. Tại đây, T1 và T đã tháo được 22,4m thanh đồng chống sét tại Căn nhà số P của gia đình chị Phạm Thu H1 và 34,4m thanh đồng chống sét tại Căn nhà số P của Công ty Q1. Tháo xong, các đối tượng cuộn các đoạn thanh đồng cho vào trong 01 chiếc bao tải, rồi bê xuống cất giấu ở bậc cửa phía sau tầng 1 căn nhà P01-13.

Sau đó, T1 và T tiếp tục trèo lên nóc căn nhà P01-12 tháo trộm được 19,4m thanh đồng chống sét của gia đình anh Nguyễn Minh Đ và 19,4m thanh đồng chống sét ở căn nhà số P của gia đình anh Nguyễn Hưng T2. Tháo xong, các đối tượng tiếp tục cuộn các đoạn thanh đồng cho vào trong chiếc bao tải còn lại, rồi đem xuống cất giấu ở bậc lên xuống cửa sau căn hộ P01-16, rồi tiếp tục đi trộm cắp tài sản.

Khoảng 22 giờ cùng ngày, tổ bảo vệ của khu đô thị đi tuần tra, phát hiện T1 đang ẩn nấp ở tầng 4 căn nhà P và T đang ẩn nấp ở tầng 2 căn nhà P01-17 nên đã báo lực lượng công an đến tiếp nhận sự việc. Lực lượng công an phối hợp với bảo vệ khu đô thị kiểm tra phát hiện, thu giữ vật chứng, lập biên bản ghi nhận sự việc, đưa về trụ sở để xác minh làm rõ. Tại cơ quan công an, Nguyễn Văn T1 và Đặng Văn T đã đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội.

Ngày 01/9/2025, những người bị hại là anh Nguyễn Hưng T2, anh Nguyễn Minh Đ, chị Phạm Thu H1 và đại diện theo ủy quyền của Công ty Q1 đều có đơn trình báo về việc bị trộm cắp tài sản, đề nghị giải quyết.

Tại Biên bản xác định hiện trường xảy ra vụ án ngày 01/9/2025 tại Khu B, Đô thị D, phường D, thành phố Hà Nội xác định:

“...Hiện trường nơi xảy ra vụ việc được xác định tại các số nhà P, P01-L12, P01-L13, P01-L14, P01-L16, P01-L17 thuộc khu B, Đô thị D, phường D, thành phố Hà Nội. Các số nhà trên đều được xây dựng xong phần thô gồm 04 tầng và chưa có người ở. T1 và Trần cùng xác nhận dùng tuốc-nơ-vít tháo các đai kim loại cố định, sau đó giật lấy các thanh đồng kết nối giữa các cột thu lôi, lấy được số thanh đồng gồm:

  • - Tại số nhà P: .... tổng chiều dài các thanh đồng bị lấy là 22,4m...
  • - Tại số nhà P: .... tổng chiều dài các thanh đồng bị lấy là 34,4m...
  • - Tại số nhà P: .... tổng chiều dài các thanh đồng bị lấy là 19,4m...
  • - Tại số nhà P: ... tổng chiều dài các thanh đồng bị lấy là 19,4m...”

Vật chứng vụ án:

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng liên quan do Nguyễn Văn T1 giao nộp gồm:

  • - 01 tuốc-nơ-vít 4 cạnh, dài 13cm, tay cầm màu đỏ-đen dài 10cm, mũi dài 03cm, đã qua sử dụng.
  • - 01 tuốc-nơ-vít 2 cạnh, dài 27cm, tay cầm màu vàng-đen dài 12cm, mũi dài 15cm, đã qua sử dụng.
  • - 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Acruzo màu sơn xanh, biển kiểm soát 36B5-567.40, số khung: RLCCSEA910FY017, số máy: E3T9E-017654, đã qua sử dụng.
  • - 01 bao tải màu trắng bên trong chứa 16 đoạn thanh kim loại bằng đồng được cuộn lại, các thanh đồng này cùng có kích thước bản rộng 2,5cm, độ dày 0,3cm, có tổng chiều dài 62,19m, tổng cân nặng 39,8kg.
  • - 01 bao tải màu trắng bên trong chứa 08 đoạn thanh kim loại bằng đồng được cuộn lại, các thanh đồng này cùng có kích thước bản rộng 2,5cm, độ dày 0,3cm, có tổng chiều dài 33,41m, tổng cân nặng 21,4kg.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 1308/KL-HĐĐGTS ngày 09/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thành phố H, kết luận:

“...24 thanh kim loại bằng đồng có cùng chủng loại, bản rộng 2,5cm, dày 0,3cm, tổng chiều dài 95,6m tổng trị giá 25.764.200 đồng...”.

Xử lý vật chứng:

Ngày 10/9/2025, Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại bị hại số vật chứng gồm 24 thanh kim loại bằng đồng đã thu giữ nêu trên. Sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, anh Nguyễn Hưng T2, anh Nguyễn Minh Đ, chị Phạm Thu H1 và đại diện theo ủy quyền của Công ty Q1 không yêu cầu bồi thường thêm khoản nào khác.

Cáo trạng số 58/CT-VKS-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Hà Nội truy tố Đặng Văn T, Nguyễn Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

  • - Các Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung tại Cáo trạng đã nêu; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Đặng Văn T từ 12-15 tháng tù; Nguyễn Văn T1 từ 9-12 tháng tù.

* Trách nhiệm dân sự:

Do bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề nghị xem xét.

* Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 tuốc-nơ-vít 4 cạnh, dài 13cm, tay cầm màu đỏ-đen dài 10cm, mũi dài 03cm; 01 tuốc-nơ-vít 2 cạnh, dài 27cm, tay cầm màu vàng-đen dài 12cm, mũi dài 15cm; 02 bao tải màu trắng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1]. Tại phiên toà các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp lời khai với nhau; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác Cơ quan điều tra đã thu thập, đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 18 giờ đến 22 giờ ngày 31/8/2025, tại khu vực Khu B, Đô thị D, phường D, thành phố Hà Nội, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của các chủ sở hữu, Nguyễn Văn T1 và Đặng Văn T đã có hành vi cùng nhau lén lút chiếm đoạt của các gia đình anh Nguyễn Minh Đ, chị Phạm Thu H1, anh Nguyễn Hưng T2 và Công ty Q1 tổng số 24 thanh kim loại bằng đồng dùng để thu lôi chống sét, với tổng cộng trị giá 25.764.200 đồng.

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trị giá nêu trên của Đặng Văn T và Nguyễn Văn T1 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Hà Nội truy tố các bị cáo Đặng Văn T và Nguyễn Văn T1 theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo có sức khỏe nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện, lao động chân chính kiếm sống để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nên buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội đã gây ra. Do đó cần phải áp dụng mức hình phạt phù hợp với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe đối với từng bị cáo và có tính phòng ngừa chung.

[2.2]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, cả hai bị cáo đều là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên giữ vai trò ngang nhau. Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi ngay trả lại cho bị hại, các bị cáo chưa được hưởng lợi, sau khi phạm tội đã đầu thú, bị cáo T là người dân tộc thiểu số, bị cáo Nguyễn Văn T1 đã tham gia bộ đội được tặng danh hiệu đoàn viên xuất sắc tiêu biểu; gia đình T1 có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, được Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Do bị cáo T1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên mức hình phạt của T1 thấp hơn bị cáo T.

Kết quả xác minh đối với chiếc xe máy đã thu giữ, là phương tiện các đối tượng sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội là tài sản đứng tên đăng ký sở hữu của chị Phạm Thị S (là vợ anh Ngô Khắc T3). Ngày 30/8/2025, anh T3 cho T1 và Trần mượn xe máy trên để làm phương tiện đi làm hàng ngày, nhưng không biết các đối tượng sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên không có cơ sở để xử lý. Ngày 02/10/2025, Cơ quan điều tra đã Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe máy trên cho chị Phạm Thị S, chị S đã nhận xe và không có ý kiến gì.

[2.3] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy các bị cáo đều là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[2.4] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.5] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 tuốc-nơ-vít 2 cạnh, dài 27cm, tay cầm màu vàng-đen dài 12cm, mũi dài 15cm, đã qua sử dụng.
  • - 01 tuốc-nơ-vít 4 cạnh, dài 13cm, tay cầm màu đỏ-đen dài 10cm, mũi dài 03cm, đã qua sử dụng.
  • - 02 bao tải màu trắng, đã qua sử dụng.

Đều là công cụ liên quan đến tội phạm nên cần tịch thu tiêu hủy.

[2.6] Về nghĩa vụ chịu án phí:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Văn T, Nguyễn Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt:

    Đặng Văn T: 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2025.

    Nguyễn Văn T1: 9 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2025.

  3. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy:
    • - 01 tuốc-nơ-vít 2 cạnh, dài 27cm, tay cầm màu vàng-đen dài 12cm, mũi dài 15cm, đã qua sử dụng.
    • - 01 tuốc-nơ-vít 4 cạnh, dài 13cm, tay cầm màu đỏ-đen dài 10cm, mũi dài 03cm, đã qua sử dụng.
    • - 02 bao tải màu trắng, đã qua sử dụng.

    (Toàn bộ số vật chứng, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/11/2025, hiện đang lưu giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 6- Hà Nội).

  4. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - VKSND khu vực 6-Hà Nội;
  • - Phòng THADS khu vực 6 – Hà Nội;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

 

Trịnh Văn Trồi

Nguyễn Cao Biền

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2025/HSST ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6- HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 152/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6- HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn T + Nguyễn Văn T trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger