|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 152/2025/HSST Ngày: 19-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Phước
Bà Nguyễn Thị Chi
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2025/HSST ngày 19 tháng 02 năm 2025 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức; Điểm cầu thành phần đặt tại Trại giam C - Phân trại tạm giam khu vực thành phố T; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Phúc T; Giới tính: Nam; Sinh năm 1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: 922/1, Quốc lộ A, khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: 922/1, Quốc lộ A, khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1963 và bà Phạm Thị Lệ T2, sinh năm 1966; Chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 21/12/2023. (Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Vũ Ngọc H; Địa chỉ: 5, Quốc lộ A, khu phố E, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
- Ông Kiều Minh K; Địa chỉ: D, đường D, khu phố H, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 21/12/2023, Công an phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính khu nhà bỏ hoang kế bên nhà của Nguyễn Phúc T tại địa chỉ số I Quốc lộ A, Khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện bên trong nhà có 10 chậu trồng cây cần sa cao khoảng 60 cm và 08 chậu trồng cây cần sa cao khoảng 10 cm. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Phúc T tại địa chỉ số I Q, khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ 01 bình thủy tinh chứa hoa, lá, cành khô là cần sa. T khai nhận số cần sa trên do T trồng mục đích để bán lại cho người khác kiếm lời nên Công an phường H, thành phố T lập biên bản phạm tội quả tang đối với T, thu giữ toàn bộ tang vật và đưa T về trụ sở Công an phường H để tiếp tục điều tra làm rõ.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Nguyễn Phúc T khai nhận: Do có khó khăn về kinh tế, T lên mạng xã hội Facebook tìm hiểu các loại ma túy với mục đích bán kiếm tiền tiêu xài. Từ tháng 9/2023, qua tìm hiểu, T thấy cây cần sa ảnh hưởng sức khỏe ít hơn các loại khác nên quyết định mua hạt cần sa về trồng bán kiếm lời. T truy cập tài khoản Facebook “Thanh Vân” thấy đăng thông tin bán hạt cần sa nên T nhắn tin và gọi điện qua ứng dụng Messenger cho V hỏi mua cần sa, V báo giá 40.000 đồng/01 hạt cần sa và hướng dẫn T cách trồng cần sa. Lần thứ nhất, T mua của V 20 hạt cần sa với giá 800.000 đồng và mua 03 chai dung dịch phân bón giá 350.000 đồng, T trồng lên được 10 cây cao 60 cm. Sau đó, T mua thêm của V 10 hạt, trồng lên được 08 cây cao 05 cm. Cả hai lần mua hạt cần sa T đều sử dụng tài khoản V1 số 10800186477 của T chuyển trả tiền cho V (không nhớ số tài khoản), V gửi hạt cần sa qua dịch vụ giao hàng cho T. Tháng 9/2023, T truy cập vào mạng xã hội T3 thấy tài khoản T3 tên “Anh B” (không rõ lai lịch) bán cần sa khô với giá 3.500.000 đồng/01 lạng cần sa khô nên T mua về bán lại. Anh B gửi shipper (không rõ nhân thân lai lịch) giao cần sa cho T. Sau đó, T lên mạng xã hội T3, sử dụng tài khoản Telegram tên “Hạt Cát Sa M” đăng bài bán 01 gói cần sa khô với giá 200.000 đồng, trọng lượng 20 gam. Khi có người mua cần sa thì T sử dụng cân điện tử để phân cần sa và cho vào bịch nhỏ đem giao cho người mua. Tường bán được khoảng 10 lần cho nhiều người khác nhau (không rõ lai lịch và nhớ cụ thể thời gian bán), hình thức giao cần sa qua dịch vụ giao hàng hoặc T đi giao trực tiếp, tổng số tiền thu được là 2.000.000 đồng. Trong nhóm người mua ma túy, T bán cho Kiều Minh K một lần với giá 200.000 đồng (không nhớ rõ thời gian), Vũ Ngọc H hai lần với giá 200.000 đồng/01 lần vào các ngày 30/11/2023 và 18/12/2023 và 01 người (không rõ lai lịch) ở khu vực đường D, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 200.000 đồng. Đến ngày 21/12/2023, Công an phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra tại địa chỉ số I Q, khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện và bắt quả tang T tàng trữ trái phép rễ, lá, cành của cây cần sa với khối lượng 315,2391 gam. Kết quả xét nghiệm với chất ma túy đối với T cho kết quả: âm tính. Qua truy xét, đưa hai đối tượng Vũ Ngọc H và Kiều Minh K về làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, H và K thừa nhận toàn bộ hành vi như lời khai của Nguyễn Phúc T.
Vật chứng vụ án: 18 chậu nhựa màu đen dùng để trồng cây cần sa đường kính 20 cm, cao 16,5 cm; 10 cây cần sa cao khoảng 60 cm; 08 cây cần sa cao khoảng 10 cm; 01 bình thủy tinh cao 25 cm, bên trong chứa hoa, lá, cành cây khô; 01 chiếc đèn Led màu trắng, xanh, hình chữ nhật có kích thước: 54 cm x 10 cm có dây điện màu đen và biến điện màu trắng hình hộp chữ nhật kích thước: 20 cm x 3 cm; 01 bóng đèn nhãn hiệu Posson, L - 220V màu trắng, hình tròn; 01 máy phun sương màu trắng, không nhãn hiệu, hình trụ tròn, đường kính 20 cm, cao 30 cm; 01 cân điện tử màu trắng không có hiệu; 50 gói nylong rỗng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, 256 Gb màu vàng có ốp nhựa màu xanh số thuê bao 0359967378; mã số màn hình 130921; 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade màu vàng đồng, biển số 59XB – 371.32.
Kết luận giám định số 304/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H
- Gói 01: Lá, cành cây được ký hiệu m1 có khối lượng 1,0891 gam là cần sa.
- Gói 02: Lá, cành cây được ký hiệu m2 có khối lượng 65,37 gam là cần sa.
- Gói 03: Rễ, lá, cành cây được ký hiệu m3 có khối khối 248,78 gam là cần sa.
Bản cáo trạng số 115/CT-VKSTPTĐ ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố Nguyễn Phúc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Phúc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Đề nghị xử phạt Nguyễn Phúc T mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù; Về xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng; Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Phúc T khai nhận từ khoảng tháng 9/2023, Nguyễn Phúc T đã có hành vi bán trái phép ma túy cần sa cho nhiều người trên địa bàn thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó xác định được hai người mua là Kiều Minh K và Vũ Ngọc H, thu lợi được 2.000.000 đồng. Đồng thời, vào lúc 23 giờ 00 phút ngày 21/12/2023 tại địa chỉ số I Q, khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố H còn có hành vi tàng trữ trái phép tổng cộng khối lượng 315,2391 gam rễ, lá, cành cây cần sa nhằm mục đích bán cho người nghiện. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích muốn thỏa mãn động cơ cá nhân nên vẫn cố tình phạm tội với lỗi cố ý. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị cáo Nguyễn Phúc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
- Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lí các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội cần phải xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về hình phạt bổ sung: Cần phạt bị cáo 10.000.000 đồng quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
- Về các biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo nộp lại số tiền 2.000.000 đồng thu lợi bất chính để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng:
Mẫu vật còn lại sau khi giám định có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra (125/2024 – Nguyễn Phúc T) gồm: Gói 1: (m1) đã sử dụng giám định hết; Gói 2: Phần còn lại của (m2) có khối lượng 62,98 gam; Gói 3: Phần còn lại của (m3) có khối lượng 232,90 gam; 18 chậu nhựa màu đen dùng để trồng cây cần sa đường kính 20 cm, cao 16,5 cm; 01 bình thủy tinh cao 25 cm; 01 chiếc đèn Led màu trắng, xanh, hình chữ nhật có kích thước: 54 cm x 10 cm có dây điện màu đen và biến điện màu trắng hình hộp chữ nhật kích thước: 20 cm x 3 cm; 01 bóng đèn nhãn hiệu Posson, L - 220V màu trắng, hình tròn; 01 máy phun sương màu trắng, không nhãn hiệu, hình trụ tròn, đường kính 20 cm, cao 30 cm; 01 cân điện tử màu trắng không có hiệu; 50 gói nylong rỗng cần tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, 256 Gb màu vàng có ốp nhựa màu xanh. Số thuê bao 0359967378 là điện thoại của Nguyễn Phúc T dùng để liên lạc mua bán ma túy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade màu vàng đồng, biển số 59XB – 371.32 là xe mô tô do Nguyễn Phúc T đứng tên chủ sở hữu xe, sử dụng xe để đi giao ma túy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Về các vấn đề khác: Đối với người sử dụng tài khoản Facebook tên Thanh V và người sử dụng tài khoản Telegram tên Anh B đã bán cần sa cho T, do chưa rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra tiếp tục điều tra, có căn sẽ xử lý sau. Đối với Kiều Minh K và Vũ Ngọc H là người nghiện ma túy, Cơ quan điều tra đã giao Công an phường H xử lý vi phạm hành chính là có cơ sở.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phúc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 của Bộ luật hình sự.
- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Nguyễn Phúc T 08 (Tám) năm 06 (S) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.
Phạt Nguyễn Phúc T 10.000.000 (Mười triệu) đồng.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự:
Buộc Nguyễn Phúc T nộp lại số tiền 2.000.000 (Hai triệu) đồng để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 03 gói niêm phong ký hiệu G1, G2, G3 là mẫu vật còn lại sau khi giám định có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra ghi vụ số 125/2024; 18 chậu nhựa màu đen đường kính 20 cm, cao 16,5 cm; 01 chiếc đèn Led màu trắng, xanh, hình chữ nhật; 01 bóng đèn nhãn hiệu Posson, L - 220V màu trắng, hình tròn; 50 gói nylong rỗng; 01 bình thủy tinh cao 25 cm; 01 cân điện tử màu trắng không có hiệu; 01 máy phun sương màu trắng, không nhãn hiệu, hình trụ tròn, đường kính 20 cm, cao 30 cm.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, 256 Gb màu vàng có ốp nhựa màu xanh. Số thuê bao 0359967378; mã số màn hình 130921; Số S F2LDPJXYOD45; số máy: MG943LL/A; Số Imei: 353776390100434; 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade màu vàng đồng, biển số 59XB – 371.32; số khung: RLHJF6324HZ156715; số máy: JF63E2188462.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 316/QĐ-VKSTPTĐ ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Phiếu nhập kho ngày 07/02/2025; Biên bản giao nhận tang tài vật ngày 07/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức)
- Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Phúc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thái Bình |
6
Bản án số 152/2025/HSST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 152/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Phúc Tường - Mua bán trái phép chất ma túy
