|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 152/2025/HNGĐ-ST Ngày 30-6-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Xuân Quyết
Bà Vũ Thị Minh Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Khánh Sơn - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 84/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố A, phường L, thành phố T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1982; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố A, phường L,thành phố T, thành phố Hải Phòng; hiện cư trú: CHLB Đ; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai đề ngày 09/4/2025, nguyên đơn chị Hoàng Thị H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quá và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên vào ngày 20/11/2007. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì anh D sang Đ sinh sống và làm ăn. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, sau này nảy sinh nhiều mâu thuẫn và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kể từ khi hai vợ chồng xa nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, lối sống, giữa hai vợ chồng thường xuyên cãi vã và không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên khuyên bảo, hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện nay, anh chị đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau về tình cảm, độc lập về kinh tế; anh D đi nước ngoài không về Việt Nam nên vợ chồng không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy chị H đề nghị Toà án cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn D.
Về con chung: Chị H và anh D có 02 con chung là cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 28/7/2008 và cháu Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 14/11/2014. Khi ly hôn, chị H đề nghị Toà án giao 02 con chung cho chị nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi vì các con hiện đang ở với chị, anh D không có mặt ở Việt Nam. Việc cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị H và anh D tự thoả thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác minh lấy lời khai của bà Hoàng Thị Đ1 (là mẹ đẻ anh Nguyễn Văn D) thể hiện: Gia đình bà đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án và Thông báo yêu cầu cung cấp địa chỉ của bị đơn anh Nguyễn Văn D. Sau khi nhận được các văn bản của Toà án, gia đình đã liên lạc điện thoại và thông báo cho anh D nội dung khởi kiện xin ly hôn của chị Hoàng Thị H nhưng anh D không cung cấp địa chỉ cụ thể nơi anh D sinh sống ở Cộng hòa Liên bang Đ cho gia đình, vì vậy gia đình không thể cung cấp địa chỉ của anh D cho Toà án được. Quan điểm của anh D trình bày thông qua gia đình là anh D đồng ý ly hôn với chị Hoàng Thị H. Về con chung, anh chị có hai con như chị H trình bày, anh D đề nghị Toà án giải quyết về con chung theo quy định pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, anh chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Tại phiên toà, chị Hoàng Thị H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, quan điểm như bản tự khai đã gửi Tòa án; anh Nguyễn Văn D vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do vắng mặt của các đương sự; công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã chấp hành các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, vắng mặt tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, không có quan điểm gửi Tòa án. Tại phiên tòa các đương sự vắng mặt vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227; 228; 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, xét thấy mâu thuẫn vợ chông giữa chị H và anh D đã đến mức trầm trọng, anh chị sống ly thân không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị H: Về quan hệ hôn nhân, chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn D. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 28/7/2008 và cháu Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 14/11/2014 cho chị H được nuôi dưỡng đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con, chị H và anh D tự thoả thuận nên không đặt vấn đề giải quyết. Về tài sản chung, chị H không yêu cầu Toà án giải quyết. Nguyên đơn chị Hoàng Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Nguyên đơn là chị Hoàng Thị H cư trú tại thành phố T, thành phố Hải Phòng và bị đơn anh Nguyễn Văn D đăng ký hộ khẩu tại thành phố T, thành phố Hải Phòng; hiện cư trú ở C liên bang Đ. Chị H đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết vụ án. Căn cứ vào khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt và anh Nguyễn Văn D đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ vào các điều 227; 228; 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Điều kiện và quá trình kết hôn như chị Hoàng Thị H trình bày, hôn nhân giữa chị H và anh D là hợp pháp theo quy định tại các điều 8 và 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì anh D sang Cộng hoà liên bang Đ sinh sống, lao động từ đó do xa cách về địa lý dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống, lối sống, giữa hai vợ chồng thường xuyên cãi vã và không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Mặc dù mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Hiện nay chị H và anh D mỗi người sống một nơi, không ai còn quan tâm đến ai về tình cảm, độc lập về kinh tế. Do đó, có cơ sở xác định cuộc sống chung giữa chị H và anh D mâu thuẫn không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị Hoàng Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
[4] Về con chung: Chị H và anh D có 02 chung là cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 28/7/2008 và cháu Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 14/11/2014. Hiện nay, anh D hiện đang cư trú tại Cộng hoà liên bang Đ; chị H có nguyện vọng nuôi cả hai con; do đó cần giao 02 con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác là phù hợp với quy định của pháp luật và hoàn cảnh của các bên, nguyện vọng của các con để đảm bảo việc chăm sóc con chung. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị Hoàng Thị H sẽ tự thoả thuận với anh D, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị H và anh Nguyễn Văn D tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Nguyên đơn chị Hoàng Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; các điều 227; 228; 238; 271; 273; điểm d khoản 1 Điều 469; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các điều 58; 81; 82; 83; 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị H:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn D
- Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Thùy L, sinh ngày 28/7/2008 và Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 14/11/2014 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị Hoàng Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001187 ngày 02/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Chị Hoàng Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Anh Nguyễn Văn D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Thu |
Bản án số 152/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 152/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CNYCKK
