Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 152/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 04/3/2025

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Dương Thùy Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Trung Thành; Ông Mai Minh Chánh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Trọng Tín – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Thạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 650/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 108/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24/02/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn Vũ L, sinh năm 1996. Địa chỉ cư trú: Số F, tổ A, ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Bị đơn: Bà Phan Cẩm N, sinh năm 2000. Nơi đăng ký thường trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Nơi cư trú hiện tại: Tổ B, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/8/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Văn Vũ L trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà Phan Cẩm N tự nguyện quen nhau và tự nguyện kết hôn, ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 89, đăng ký ngày 13/6/2018. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, ông bà có với nhau 01 (một) người con chung tên Lê Thị Tường V, sinh ngày 06/01/2019. Sau khi con sinh ra đời thì vợ chồng đi làm thuê ở Bình Dương, đến năm 2021, bà N tự bỏ đi, không còn sống chung với ông, bà N nói là vợ chồng sống không hợp, không còn duyên nợ. Từ đó vợ chồng sống ly thân đến nay, không có liên lạc qua lại, không hàn gắn tình cảm được với nhau. Nay, do thời gian ly thân đã lâu, nhận thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, ông và bà N không còn yêu thương, quan tâm nhau nên ông yêu cầu được ly hôn với bà N.

Về con chung: Hiện con chung đang sống với ông, khi ly hôn, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các văn bản tố tụng khác cho các đương sự nhưng bị đơn bà Phan Cẩm N vắng mặt, không gửi văn bản trình bày ý kiến về vụ án cho Tòa án, không có đơn xin vắng mặt.

* Tòa án tiến hành xác minh, được biết bà Phan Cẩm N có đăng ký thường trú tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang nhưng hiện gia đình đã chuyển đến sinh sống tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Về mâu thuẫn hôn nhân giữa ông L và bà N như thế nào thì ban ấp không biết do ông bà không có nhờ ban ấp can thiệp hay hòa giải.

* Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà N vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

* Tại phiên tòa:

  • Nguyên đơn ông L vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Bị đơn bà N vắng mặt, không có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến:

+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Riêng bị đơn là chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 58, 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho ông L được ly hôn với bà N, giao con chung là cháu V cho ông L được trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Lê Văn Vũ L khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung đối với bị đơn bà Phan Cẩm N nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Bị đơn bà N có địa chỉ cư trú tại xã M, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tại phiên tòa lần thứ hai, nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, riêng bị đơn vắng mặt, không có lý do, không có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Ông Lê Văn Vũ L và bà Phan Cẩm N tự nguyện quen nhau và tự nguyện kết hôn, ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 89, đăng ký ngày 13/6/2018 nên công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông L và bà N là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng.

Theo khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau;...”. Tuy nhiên, theo ông L trình bày, khi còn sống chung, bà N không quan tâm, chăm sóc chồng con mà tự ý bỏ nhà đi, từ đó vợ chồng sống ly thân với nhau đến nay, không còn hạnh phúc, tình cảm nhạt phai nên ông L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà N. Quá trình giải quyết vụ án, bà N không gửi văn bản ý kiến trình bày về vụ án cũng như yêu cầu khởi kiện của ông L. Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải để tạo điều kiện cho ông L và bà N có cơ hội được hòa giải, hàn gắn tình cảm, đoàn tụ với nhau nhưng bà N vẫn vắng mặt, cho thấy bà N đã tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình và không muốn hàn gắn với ông L. Tại phiên tòa, cả ông L và bà N đều vắng mặt, điều này thể hiện cả hai đều không còn quan tâm, yêu thương nhau và không còn tha thiết hàn gắn, duy trì mối quan hệ hôn nhân giữa họ.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa ông L và bà N đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L, cho ông L được ly hôn với bà N là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú.

[2.2] Về con chung: Ông L khai vợ chồng có 01 (một) con chung là cháu Lê Thị Tường V, sinh ngày 06/01/2019, bà N không có ý kiến gì về con chung. Xét thấy, cháu V hiện đang sống ổn định với ông L, ông L có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông L, giao con chung là cháu V cho ông L được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 58, Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do ông L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung: Căn cứ vào Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét thấy bà N là người không trực tiếp nuôi con chung nhưng có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định.

Người được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con đến thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung.

Quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Vì lợi ích của các con, theo yêu cầu của một bên, các bên hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi về cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.5] Về tài sản chung, nợ chung: Ông L không yêu cầu giải quyết, bà N không có ý kiến về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp sau này, ông L, bà N hay ai khác có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết trong vụ án khác.

[3] Về án phí sơ thẩm: Ông L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn Vũ L:

  • - Về hôn nhân: Cho nguyên đơn ông Lê Văn Vũ L được ly hôn với bị đơn bà Phan Cẩm N.
  • Giấy chứng nhận kết hôn số 89, đăng ký ngày 13/6/2018 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Phan Cẩm N và ông Lê Văn Vũ L không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu luật pháp luật.
  • - Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Thị Tường V, sinh ngày 06/01/2019 cho nguyên đơn ông Lê Văn Vũ L trực tiếp nuôi dưỡng, hiện cháu V đang sống với ông L.
  • Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét.
  • Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Bà Phan Cẩm N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
  • Người được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con đến thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung.
  • Quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Vì lợi ích của các con, theo yêu cầu của một bên, các bên hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi về cấp dưỡng nuôi con chung.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
  • - Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn ông Lê Văn Vũ L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm mà ông L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số: 0006176 ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú nên ông L không phải nộp thêm.
  • - Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh AG;
  • - Viện kiểm sát ND H. Châu Phú;
  • - Chi cục THA DS H. Châu Phú;
  • - UBND xã Khánh Hòa; H. Châu Phú; Tỉnh An Giang.
  • - Đương sự;
  • - Lưu VP; hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Dương Thùy Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2025/HNGĐ-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 152/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông L yêu cầu ly hôn với bà N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger