trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 152/2025/DS-ST

Ngày: 19/6/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng

tín dụng

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thanh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Minh Thân;

Ông Trần Quốc Sơn.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Đặng Thị Thùy Dung - Cán bộ tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Trần Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 19/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 240/2024/TLST-DS ngày 25/10/2024 về việc “Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2025/QĐST-DS ngày 15/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 149/2025/QĐST–HPT ngày 06/6/2025 giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á. Địa chỉ: DN, phường E, quận C, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P – Chức vụ: Tổng giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị T – Giám đốc xử lý nợ (Theo Giấy uỷ quyền số 2118/UQ-QLN.23 ngày 13/11/2023). Bà T uỷ quyền cho ông Đỗ Mạnh T1 tham gia tố tụng (Theo Giấy uỷ quyền số 2950/UQ-CNTL.24 ngày 08/08/2024).

Bị đơn: Anh Nguyễn Đức T2, sinh năm 1991;

Chị Nguyễn Thị Y1, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Số C, ngách C M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Mạnh C, sinh năm 1991, chị Nguyễn Hoàng Hải Y, sinh năm 1993; cháu Vũ L, sinh ngày 14/12/2014. Cùng địa chỉ: Số C, ngách C M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội (Anh C và chị Y là người đại diện cho cháu L).

Ông T1 có mặt. Còn lại đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 08/08/2024 và các ý kiến trong quá trình giải quyết tại Tòa án, Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 02/6/2023, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á và ông Nguyễn Đức T2, bà Nguyễn Thị Y1 ký Hợp đồng cấp tín dụng số TDT.CN.198.010623 ngày 02/06/2023, cụ thể:

Số tiền vay: 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng). Mục đích vay: Tiêu dùng có tài sản bảo đảm – Mua sắm trang thiết bị vật dụng sinh hoạt gia đình – Bên được cấp tín dụng cần vay để mua sắm trang thiết bị nội thất tại căn nhà số C B, I, phố T, Cầu D, Hà Nội. Thời hạn vay: 120 tháng, kể từ ngày kế tiếp ngày Bên được cấp tín dụng nhận tiền vay lần đầu; Phương thức cho vay: Cho vay từng lần. Phương thức giải ngân: được quy định trong từng Khế ước nhận nợ cụ thể; Thời hạn giải ngân: 06 tháng, kể từ ngày ký hợp đồng cấp tín dụng; Lãi suất trong hạn: được quy định trong từng khế ước nhận nợ cụ thể; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm.

Để thực hiện Hợp đồng cấp tín dụng nêu trên, A đã giải ngân cho ông Nguyễn Đức T2, bà Nguyễn Thị Y1 bằng Khế ước nhận nợ như sau: Tài khoản vay 399247029 giải ngân ngày 02/06/2023; số tiền cho vay 800.000.000 đồng; thời hạn cho vay: Từ ngày 03/06/2023 đến ngày 02/06/2033; Lãi suất trong hạn: 10.5%/năm, cố định trong 12 tháng đầu tiên; lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức: Lãi suất (%/năm) = LSCS + 3.9%/năm.

Vào ngày 10/10/2019, Ngân hàng TMCP Á cấp tín dụng cho ông Nguyễn Đức T2, bà Nguyễn Thị Y1 căn cứ theo Hợp đồng cấp tín dụng số TDT.CN.198.081019 ngày 10/10/2019, cụ thể:

Số tiền vay: 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng). Mục đích vay: Xây dựng/sửa chữa nhà – Trang trí nội thất – sửa chữa nhỏ, trang trí nội thất. Thời hạn vay: 180 tháng, kể từ ngày kế tiếp ngày Bên được cấp tín dụng nhận tiền vay lần đầu; Phương thức cho vay: Cho vay từng lần. Phương thức giải ngân: được quy định trong từng Khế ước nhận nợ cụ thể; Thời hạn giải ngân: 12 tháng, kể từ ngày ký hợp đồng cấp tín dụng; Lãi suất trong hạn: được quy định trong từng khế ước nhận nợ cụ thể; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm.

Để thực hiện Hợp đồng cấp tín dụng nêu trên, A đã giải ngân cho ông Nguyễn Đức T2, bà Nguyễn Thị Y1 bằng Khế ước nhận nợ như sau: Tài khoản vay 293940359 giải ngân ngày 11/10/2019; số tiền cho vay 900.000.000 đồng; thời hạn cho vay: Từ ngày 12/10/2019 đến ngày 11/10/2029; Lãi suất trong hạn: 9.3%/năm, cố định trong đó 06 tháng đầu tiên; Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức: Lãi suất (%/năm) = LS13 + 3.9%/năm.

Ngày 10/10/2019, Ngân hàng TMCP Á cấp tín dụng cho ông Nguyễn Đức T2, bà Nguyễn Thị Y1 căn cứ theo Hợp đồng cấp tín dụng số TDT.CN.347.081019 ngày 10/10/2019, cụ thể:

Số tiền vay: 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng). Mục đích vay: Tiêu dùng có tài sản bảo đảm – Mua sắm trang thiết bị vật dụng sinh hoạt gia đình – Mua sắm trang thiết bị vật dụng gia đình. Thời hạn vay: 120 tháng, kể từ ngày kế tiếp ngày Bên được cấp tín dụng nhận tiền vay lần đầu; Phương thức cho vay: Cho vay từng lần. Phương thức giải ngân: được quy định trong từng Khế ước nhận nợ cụ thể; Thời hạn giải ngân: 06 tháng, kể từ ngày ký hợp đồng cấp tín dụng; Lãi suất trong hạn: được quy định trong từng khế ước nhận nợ cụ thể; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm.

Để thực hiện Hợp đồng cấp tín dụng nêu trên, A đã giải ngân cho ông Nguyễn Đức T2, bà Nguyễn Thị Y1 bằng Khế ước nhận nợ như sau: Tài khoản vay 293942779 giải ngân ngày 11/10/2019; số tiền cho vay 400.000.000 đồng; thời hạn cho vay: Từ ngày 12/10/2019 đến ngày 11/10/2029; Lãi suất trong hạn: 9.8%/năm, cố định trong đó 06 tháng đầu tiên; Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức: Lãi suất (%/năm) = LS13 + 3.9%/năm.

Để đảm bảo cho các khoản vay trên, ông T2 và bà Y1 đã thế chấp khối tài sản sau:

Thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 532; 533, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: phường M, quận N, thành phố Hà Nội thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị Y1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 565588, số vào sổ cấp GCN: CS-NTL 11097 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 02/07/2018.

Tài sản thế chấp cho A căn cứ theo:

  • + Hợp đồng thế chấp số TDT.BĐCN.28.081019 ngày 08/10/2019 được công chứng tại Văn phòng C1, Hà Nội, số công chứng 003308.2019/HĐTC; Quyền số: 04 TP/CC - SCC/HĐGD; đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ – chi nhánh quận N ngày 08/10/2019;
  • + Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp (sửa đổi lần 1) ngày 01/06/2023 được công chứng tại Văn phòng C1, Hà Nội, số công chứng 001433; Quyền số: 02/2023- TP/CC - SCC/HĐGD;
  • + Cam kết thế chấp tài sản ngày 08/10/2019;
  • + Cam kết thế chấp tài sản ngày 01/06/2023.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng ông Nguyễn Đức T2, bà Nguyễn Thị Y1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ với A. Do đó, căn cứ thoả thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn, thì ngày 15/07/2024, A ra Thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ khoản vay của các Khế ước nhận nợ nêu trên.

Tính đến ngày 05/11/2024, ông Nguyễn Đức T2, bà Nguyễn Thị Y1 còn nợ A các khoản sau:

TT KUNN/Thẻ tín dụng Vốn gốc Lãi trong hạn Lãi quá hạn Phạt chậm trả lãi Tổng cộng
1 399247029 713,342,000 15,400,451 36,317,195 474,236 765,533,882
2 293940359 592,000,000 818,868 8,841,479 0 601,660,347
3 293942779 235,328,000 326,645 3,520,265 0 239,174,910
Tổng cộng 1,540,670,000 16,545,964 48,678,939 474,236 1,606,369,139

Nay Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết:

  • + Buộc ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị Y1 trả ngay cho A tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 05/11/2024 là 1.606.369.139 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, sáu trăm linh sáu triệu, ba trăm sáu mươi chín nghìn, một trăm ba mươi chín đồng), trong đó gồm: vốn gốc 1.540.670.000 đồng, lãi trong hạn 16.545.964 đồng, lãi quá hạn 48.678.939 đồng, phạt chậm trả lãi 474.236 đồng.
  • + Buộc ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị Y1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cấp tín dụng, Khế ước nhận nợ, kể từ ngày 06/11/2024 đến ngày trả hết nợ.
  • + Nếu ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị Y1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm sau đây được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đai tại thửa đất số 532;533, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: phường M, quận N, thành phố Hà Nội thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyên Đức T3 và bà Nguyễn Thị Y1.

Tại bản tự khai ngày 06/6/2025, bị đơn là ông Nguyễn Đức T2 trình bày: Tôi xác nhận tôi và bà Nguyễn Thị Y1 có ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng cổ phần Á. Nay Ngân hàng yêu cầu vợ chồng tôi phải trả số tiền gốc và lãi 1.690.368.519 đồng (Một tỷ sáu trăm chín mươi triệu ba trăm sáu mươi tám nghìn năm trăm mười chín đồng), tôi đồng ý trả số tiền gốc lãi như Ngân hàng yêu cầu, trong 06 tháng trả toàn bộ gốc lãi.

Để đảm bảo khoản vay, chúng tôi có thế chấp thửa đất tại số nhà C, ngách I, ngõ C, đường M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Nay về việc thu hồi tài sản để đảm bảo khoản vay, tôi không đồng ý.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 24/4/2025, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Hoàng Hải Y trình bày:

Tôi hiện đang sinh sống tại địa chỉ số nhà C, ngách I, ngõ C, đường M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội cùng chồng tôi là anh Vũ Mạnh C và con trai. Về việc anh T2 chị Y và chồng tôi liên quan tới căn nhà này thì tôi không biết gì cả. Đề nghị Tòa án lấy ý kiến của chồng tôi.

Chị Nguyễn Thị Y1 và anh Vũ Mạnh C không có lời khai trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa:

Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án:

  • + Buộc ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị Y1 trả ngay cho A tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 19/6/2025 là 1.699.239.899 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, sáu trăm chín mươi chín triệu, hai trăm ba mươi chín nghìn, tám trăm chín mươi chín đồng), trong đó gồm: vốn gốc 1.477.283.949 đồng, lãi trong hạn: 16.545.964 đồng, lãi quá hạn: 203.982.188 đồng, phạt chậm trả lãi: 1.427.798 đồng.

+ Buộc ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị Y1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cấp tín dụng, Khế ước nhận nợ, kể từ ngày 20/6/2025 đến ngày trả hết nợ.

+ Nếu ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị Y1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm sau đây được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đai tại thửa đất số 532;533, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: phường M, quận N, thành phố Hà Nội thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyên Đức T3 và bà Nguyễn Thị Y1. Theo Hợp đồng thế chấp số TDT.BĐCN.28.081019 ngày 08/10/2019 được công chứng tại Văn phòng C1, Hà Nội, số công chứng 003308.2019/HĐTC; Quyền số: 04 TP/CC - SCC/HĐGD; đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ – chi nhánh quận N ngày 08/10/2019; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp (sửa đổi lần 1) ngày 01/06/2023 được công chứng tại Văn phòng C1, Hà Nội, số công chứng 001433; Quyền số: 02/2023- TP/CC - SCC/HĐGD; Cam kết thế chấp tài sản ngày 08/10/2019; Cam kết thế chấp tài sản ngày 01/06/2023

Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa do vậy không có lời khai tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát vắng mặt tại phiên tòa và gửi bài phát biểu với nội dung:

  • + Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 204, 205 của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành các quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • + Về việc giải quyết vụ án: Xét thấy hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp được ký giữa hai bên hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật. Do bị đơn không thanh toán được nợ nên nguyên đơn khởi kiện là phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với hợp đồng thế chấp được ký kết hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật.

Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, các Điều 335, 336, 338, 340 Bộ luật dân sự, chấp nhận đơn khởi kiện, buộc bị đơn thanh toán nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn và bị đơn tiếp tục phải chịu lãi theo hợp đồng tín dụng cho đến khi thực tế thanh toán xong nợ. Nếu bị đơn không thanh toán, nguyên đơn có quyền yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật là tranh chấp về Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP Á với ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị Y1. Ông T2 và bà Y1 có địa chỉ: Số C, ngách C M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Do vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm. Nguyên đơn đã khởi kiện vụ án ra Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội là đúng theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm đã tiến hành đầy đủ thủ tục tố tụng và tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho Nguyên đơn, Bị đơn, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt, bị đơn là ông T2, bà Y1 vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông C và bà Hải Y vắng mặt.

Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về nội dung đơn khởi kiện:

Căn cứ vào các tài liệu do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án và xác nhận của ông T2, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Nguyên đơn, bị đơn đã ký kết các Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ cụ thể: Hợp đồng cấp tín dụng số TDT.CN.198.010623 ngày 02/06/2023, Khế ước nhận nợ Tài khoản vay 399247029 giải ngân ngày 02/06/2023; số tiền cho vay 800.000.000 đồng; thời hạn cho vay: Từ ngày 03/06/2023 đến ngày 02/06/2033; Lãi suất trong hạn: 10.5%/năm, cố định trong 12 tháng đầu tiên; lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức: Lãi suất (%/năm) = LSCS + 3.9%/năm; Hợp đồng cấp tín dụng số TDT.CN.198.081019 ngày 10/10/2019; Khế ước nhận nợ Tài khoản vay 293940359 giải ngân ngày 11/10/2019; số tiền cho vay 900.000.000 đồng; thời hạn cho vay: Từ ngày 12/10/2019 đến ngày 11/10/2029; Lãi suất trong hạn: 9.3%/năm, cố định trong đó 06 tháng đầu tiên; Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức: Lãi suất (%/năm) = LS13 + 3.9%/năm; Hợp đồng cấp tín dụng số TDT.CN.347.081019 ngày 10/10/2019, Khế ước nhận nợ: Tài khoản vay 293942779 giải ngân ngày 11/10/2019; số tiền cho vay 400.000.000 đồng; thời hạn cho vay: Từ ngày 12/10/2019 đến ngày 11/10/2029; Lãi suất trong hạn: 9.8%/năm, cố định trong đó 06 tháng đầu tiên; Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức: Lãi suất (%/năm) = LS13 + 3.9%/năm.

Vào các ngày 02/6/2023 và ngày 11/10/2019, ông T2, bà Y được giải ngân tổng số tiền là 2.100.000.000 đồng cụ thể: Khế ước nhận nợ số [...] ngày 02/6/2023 là 800.000.000 đồng; Khế ước nhận nợ số 01 TK vay số [...] ngày 11/10/2019 số tiền là 900.000.000 đồng và Khế ước nhận nợ số 01 TK vay số [...] ngày 11/10/2019 số tiền là: 400.000.000 đồng.

Như vậy Hợp đồng tín dụng giữa các bên được lập thành văn bản, mục đích và nội dung các thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức, có hình thức và nội dung phù hợp với các quy định của pháp luật nên Hợp đồng có hiệu lực.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T2, bà Y đã trả được cho nguyên đơn số tiền cụ thể là: Tiền gốc: 622.716.051 đồng; tiền lãi: 672.115.531 đồng. Tổng là 1.294.831.582 đồng. Từ kỳ trả nợ tháng 02/2024, ông T2, bà Y vi phạm nghĩa vụ thanh toán gốc lãi cho Ngân hàng TMCP Á.

Căn cứ vào các Hợp đồng tín dụng và các Thông báo lãi suất của ngân hàng, có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về khoản tiền gốc, khoản lãi được thể hiện trong bảng tính lãi do Nguyên đơn nộp. Tính đến hết ngày 19/6/2025, buộc ông T2, bà Y phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền là 1.699.239.899 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, sáu trăm chín mươi chín triệu, hai trăm ba mươi chín nghìn, tám trăm chín mươi chín đồng), trong đó gồm: vốn gốc 1.477.283.949 đồng, lãi trong hạn: 16.545.964 đồng, lãi quá hạn: 203.982.188 đồng, phạt chậm trả lãi: 1.427.798 đồng.

Bị đơn tiếp tục phải thanh toán số tiền lãi của khoản nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất của nợ quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng. Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn để thu hồi khoản nợ nêu trên là có căn cứ nên được chấp nhận.

[3] Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Nguyên đơn:

Về Hợp đồng thế chấp: Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông T2, bà Y hàng đã ký Hợp đồng thế chấp tài sản tại số TDT.BĐCN.28.081019 ngày 08/10/2019 được công chứng tại Văn phòng C1, Hà Nội, số công chứng 003308.2019/HĐTC; Quyền số: 04 TP/CC - SCC/HĐGD; đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ – chi nhánh quận N ngày 08/10/2019; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp (sửa đổi lần 1) ngày 01/06/2023 được công chứng tại Văn phòng C1, Hà Nội, số công chứng 001433; Quyền số: 02/2023- TP/CC - SCC/HĐGD. Tại sản thế chấp: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đai tại thửa đất số 532;533, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: phường M, quận N, thành phố Hà Nội thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyên Đức T3 và bà Nguyễn Thị Y1.

Hợp đồng thế chấp tài sản được các bên tự nguyện ký kết, có hình thức, nội dung không trái với các quy định của pháp luật, đã được công chứng tại Văn phòng C1, Hà Nội và đã hoàn thành đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ – chi nhánh quận N ngày 08/10/2019. Vì vậy Hợp đồng thế chấp là hợp pháp, có hiệu lực.

Vì vậy, có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn về xử lý tài sản thế chấp bao gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Điều 318 và 688 của Bộ Luật dân sự năm 2015.

Theo Biên bản xác minh của Tòa án thì nhà đất thế chấp nêu trên là nơi cư trú của đương sự gồm: ông Vũ Mạnh C, bà Nguyễn Hoàng Hải Y, cháu Vũ L. Những người sinh sống tại thửa đất trên nên phải có nghĩa vụ chấp hành bản án.

[4] Về án phí: Bị đơn ông T3, bà Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo giá ngạch tương ứng với số tiền phải trả cho Nguyên đơn. Hoàn trả Nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 3 Điều 26; Điểm a, khoản 1, Điều 39; Điểm a, Khoản 1, Điều 35 và các Điều 144, 147, 207 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

  • - Các Điều 318, 319, 323 Bộ luật dân sự 2015;
  • - Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163;
  • - Luật các tổ chức tín dụng;
  • - Điều 7, 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á đối với ông Nguyễn Đức T2, bà Nguyễn Thị Y1 về việc Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng tín dụng.
  2. Buộc ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị Hải Y1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Á số tiền tính đến ngày 19/6/2025 theo Hợp đồng tín dụng số TDT.CN.198.010623 ngày 02/06/2023; Hợp đồng cấp tín dụng số TDT.CN.198.081019 ngày 10/10/2019; Hợp đồng cấp tín dụng số TDT.CN.347.081019 ngày 10/10/2019.
    • + Nợ gốc: 1.477.283.949 đồng;
    • + Lãi trong hạn: 16.545.964 đồng;
    • + Lãi quá hạn: 203.982.188 đồng;
    • + Phạt chậm trả lãi: 1.427.798 đồng.

    Tổng cộng: 1.699.239.899 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, sáu trăm chín mươi chín triệu, hai trăm ba mươi chín nghìn, tám trăm chín mươi chín đồng).

    Kể từ ngày 20/6/2025, ông T2, bà Y1 còn phải thanh toán tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, phạt chậm trả lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này.

  3. Trường hợp ông T2, bà Y1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Á có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, bán đấu giá, xử lý tài sản bảo đảm: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đai tại thửa đất số 532;533, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: phường M, quận N, thành phố Hà Nội thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyên Đức T3 và bà Nguyễn Thị Y1. Theo Hợp đồng thế chấp số TDT.BĐCN.28.081019 ngày 08/10/2019 được công chứng tại Văn phòng C1, Hà Nội, số công chứng 003308.2019/HĐTC; Quyền số: 04 TP/CC - SCC/HĐGD; đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ – chi nhánh quận N ngày 08/10/2019; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp (sửa đổi lần 1) ngày 01/06/2023 được công chứng tại Văn phòng C1, Hà Nội, số công chứng 001433; Quyền số: 02/2023- TP/CC - SCC/HĐGD; Cam kết thế chấp tài sản ngày 08/10/2019; Cam kết thế chấp tài sản ngày 01/06/2023.
  4. Tài sản thế chấp nêu trên được xử lý để thanh toán cho các khoản nợ của ông T3, bà Y1 được nêu ở Khoản 2 phần Quyết định của bản án này. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán các khoản nợ ông T3, bà Y1 có nghĩa vụ thanh toán phần còn thiếu.
  5. Trong quá trình xử lý tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ thì những người có tên trong sổ hộ khẩu (hoặc sổ tạm trú) và những người không có tên trong sổ hộ khẩu (hoặc sổ tạm trú) nhưng thực tế đang sinh sống trên nhà, đất đang thế chấp đều phải có nghĩa vụ chấp hành bản án.
  6. Về án phí: Ông T3 và bà Y1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 62.977.000 đồng. Hoàn Trả cho Ngân hàng TMCP Á số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp: 29.945.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23 0027568 ngày 25/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.
  7. Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  8. Án xử công khai, sơ thẩm. Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Kim Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2025/DS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 152/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng A và Nguyễn Đức T2, Nguyễn Thị Y1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger