|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
|
Bản án số: 152/2025/DS-PT Ngày 12-3-2025 V/v tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Quang Sơn
Bà Nguyễn Thị Rẻn
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Tấn Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xa Riêng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 620/2024/TLPT-DS ngày 23/12/2024 về “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 135/2024/DS-ST ngày 22/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 338/2025/QĐ-PT ngày 22/01/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
- Chị Nguyễn Thị Tuyết T, sinh năm 1989 (có mặt)
- Anh Phạm Hữu T1, sinh năm 1995
- Cháu Satake Hữu P, sinh năm 2007
Cùng địa chỉ: Số A, L, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người giám hộ của cháu SaTake Hữu P: Chị Nguyễn Thị Tuyết T, sinh năm 1989
Địa chỉ: Số A, L, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Hữu T2, sinh năm 1983 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
2. Bị đơn:
- Ông Lê Quốc Đ, sinh năm 1967 (có mặt)
- Bà Lê Thị Thanh T3, sinh năm 1982
- Chị Lê Thị Thanh N, sinh 2001
Cùng địa chỉ: Số B B, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Lê Thị Tú A, sinh năm 2007
Người đại diện hợp pháp của cháu Lê Thị Tú A: Ông Lê Quốc Đ, sinh năm 1967
Địa chỉ: Số B B, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Quốc Đ: Chị Lê Thị Trúc P1, sinh năm 1992 (có mặt)
Địa chỉ: Số A A, Khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết T, anh Phạm Hữu T1; bị đơn ông Lê Quốc Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của các nguyên đơn và trong quá trình tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Chị Nguyễn Thị Tuyết T, anh Phạm Hữu T1 và cháu SaTake Hữu Phước đồng sở hữu phần đất có diện tích 876,4m² thuộc thửa 198, tờ bản đồ số 13, tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS11542 do Sở T10 cấp ngày 13/05/2022. Trên đất có căn nhà cấp 4 diện tích 250m² và các cây lâu năm, cây ăn trái, công trình, kiến trúc gắn liền trên đất. Phần đất có tứ cận phía Bắc giáp thửa 222, phía Nam giáp đường, phía Đông giáp thửa 197, phía Tây giáp thửa 199.
Phần đất và nhà có nguồn gốc là tài sản của bà Lê Thị Anh Đ1. Năm 2022, bà Đ1 chết, phần đất trên được ba chị em là Nguyễn Thị Tuyết T, Phạm Hữu T1 và S cùng đồng sử dụng, đồng sở hữu.
Năm 2006, bà Đ1 là mẹ của các đồng nguyên đơn có công việc đi nước ngoài sống một thời gian, ông Lê Quốc Đ và vợ là bà Lê Thị Thanh T3, cùng các con là Lê Thị Thanh N sinh năm 2001, Lê Thị Tú A sinh năm 2007 ở nhờ chiêm giữ nhà trái phép, không trả nhà đất.
Do đó, các nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Quốc Đ, bà Lê Thị Thanh T3, chị Lê Thị Thanh N, cháu Lê Thị Tú A trả lại nhà và đất trên.
Theo thông báo sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, do Lê Thị Tú A là người chưa đủ 18 tuổi, không đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người bị kiện. Ngày 12/04/2023, nguyên đơn có đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn là ông Lê Quốc Đ, bà Lê Thị Thanh T3, chị Lê Thị Thanh N trả toàn bộ đất và công trình trên đất.
Đối với phần đất có kí hiệu 198-3 diện tích 150,8m² do anh T1 quản lý nên nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần này. Toàn bộ công trình kiến trúc và cây trồng trên đất đều do bà Đ1 xây cất và trồng trọt, yêu cầu bị đơn ông Lê Quốc Đ, bà Lê Thị Thanh T3, chị Lê Thị Thanh N cùng người ở trên đất là cháu Lê Thị Tú A trả lại phần đất thuộc các phần đất có kí hiệu 198-1, 198-2, 198-4,198-5 thuộc một phần thửa 198, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre cùng toàn bộ công trình kiến trúc và cây trồng trên đất. Nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì nguyên đơn đồng ý cho bị đơn và người ở trên đất di dời nhà tạm thuộc phần đất có kí hiệu 198-2 diện tích 61,1m² để sở hữu, sử dụng. Nguyên đơn đồng ý với kết quả đo đạc, định giá có trong hồ sơ vụ án.
Trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Lê Quốc Đ và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Khoảng năm 1999, bà Lê Thị Anh Đ1 có nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Thu V một thửa đất diện tích 500m² là thửa 772, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre. Do ở xa không thể quản lý được nên bà Đ1 đã cho ông Đ cất nhà ở trên đất này để quản lý giúp cho bà Đ1 và ở gần tiện chăm sóc cha mẹ. Phần đất này do bà Đ1 nhận chuyển nhượng từ bà V và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1998. Sau khi được sự đồng ý của bà Đ1, ông Đ đã vào canh tác. Lúc này đất còn rất thấp không thể vào ở và cất nhà. Ông Đ đã san lấp cát cho mặt bằng cao xây dựng nhà. Căn nhà được ông Đ xây dựng năm 1999, có chiều ngang 9m chiều dài 15m, tổng diện tích là 135m².
Năm 2000, do làm ăn khó khăn bà V có bán phần đất có diện tích 500m² thuộc thửa 1222, tờ bản đồ số 13, tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre giáp ranh phần đất bà Đ1 mà ông Đ đang quản lý, sử dụng. Ông Đ đã nhận chuyển nhượng thửa đất này với giá 22.000.000 đồng. Có làm giấy tay mua bán đất, nhưng do thời gian quá lâu đã bị thất lạc. Sau khi nhận chuyển nhượng đất ông Đ để cho ông Lê Văn T4 đứng tên quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê Văn T4 năm 2000. Ông Đ đã san lấp mặt bằng và canh tác đất.
Năm 2000, ông Đ và bà T3 cưới nhau và về chung sống trên đất và căn nhà ông Đ xây dựng cho đến hôm nay. Vợ chồng ông Đ có mở rộng diện tích căn nhà phía trước và phía sau để thuận tiện kinh doanh. Năm 2004, khi ông Đ xây dựng căn nhà phía trước và phía sau để bán tạp hóa, bà Đ1 biết nhưng không có ngăn cản hay tranh chấp. Ông Đ và vợ đã ở trên căn nhà này cho đến nay là 24 năm.
Ngày 26/06/2018, cha mẹ ông là ông Lê Văn T4 và bà Đặng Thị Thu H đã làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa 1222, tờ bản đồ số 3 nay là một phần thửa 198, tờ bản đồ số 13 cho bà Đ1, ông Đ hoàn toàn không biết. Sau đó, bà Đ1 đo đạc và hợp hai thửa thành 198, tờ bản đồ số 13, diện tích 876,4 m² và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/07/2018.
Năm 2020, bà Đ1 đã khởi kiện yêu cầu ông Đ di dời trả đất. Trong quá trình giải quyết bà Đ1 đã thỏa thuận với ông: Bà Đ1 đồng ý trả cho gia đình ông phần đất có diện tích 250m² có căn nhà hiện tại ông đang sinh sống và buôn bán. Ông đồng ý giao trả bà Đ1 phần đất còn lại thuộc thửa 198, tờ bản đồ số 13. Hai bên thỏa thuận bà Đ1 rút đơn và tiến hành thủ tục cấp giấy chứng nhận.
Tháng 4 năm 2021, do mái tôn nhà cấp 4 bị hư hỏng nên ông tiếp tục sửa lại hoàn toàn căn nhà tiền chế bao trùm lên căn nhà cấp 4. Khi sửa chữa bà Đ1 vẫn thường xuyên lưu trú tại địa phương không có ý kiến phản đối. Tuy nhiên, ông và bà Đ1 chưa làm hợp đồng tặng cho thì bà Đ1 chết năm 2022.
Tất cả công trình trên đất là do ông Đ xây, không phải bà Đ1 xây rồi cho ở nhờ. Ông yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 2424 quyền số 04/2018 giữa ông Lê Văn T4, bà Đặng Thị Thu H sang bà Lê Thị Anh Đ1. Phần đất tranh chấp cấp cho hộ khi ông T4 ký tặng cho không có chữ ký của những thành viên trong hộ ký. Yêu cầu Tòa án công nhận theo thỏa thuận giữa ông và bà Đ1 đối với phần đất có kí hiệu 198-4, 198-5. Ông đồng ý trả cho bà Đ1 phần đất có kí hiệu 198-1, 198-2.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Đ rút toàn bộ yêu cầu phản tố, không đồng ý trả phần đất thuộc phần đất có kí hiệu 198-4, 198-5 theo ông Đ đất này ông nhận chuyển nhượng của bà V, nên không đồng ý trả đất. Nếu trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông Đ yêu cầu phải xem xét tất cả công trình trên đất và cây trồng do bị đơn xây và trồng trên đất. Ông Đ đồng ý với kết quả đo đạc và định giá.
Trong quá trình tố tụng, bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T5 và chị Lê Thị Thanh N vắng mặt nên không có lời trình bày.
Do không thể tiến hành hòa giải, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã đưa vụ án ra xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 135/2024/DS-ST ngày 22/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã áp dụng Điều 166, 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 688 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 170 Luật Đất đai năm 2013; Điều 5, Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Lê Quốc Đ, bà Lê Thị Thanh T3, chị Lê Thị Thanh N, cùng cháu Lê Thị Tú A phải di dời nhà tạm trên phần đất có kí hiệu 198-2 diện tích 61,1 m² trả lại cho chị Nguyễn Thị Tuyết T, anh Phạm Hữu T1, cháu SaTake Hữu P (do chị T giám hộ) quyền sử dụng đất thuộc các phần có kí hiệu 198-1 diện tích 417,2m², 198-2 diện tích 61,1m², 198-4 diện tích 70,1 m², 198-5 diện tích 176,6 m² có tổng diện tích là 725m² thuộc một phần thửa 198, tờ bản đồ số 13, tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre và quyền sở hữu các công trình kiến trúc gắn liền các thửa đất trên gồm: Căn nhà chính kết cấu móng cột dầm bê tông, cốt thép, tường bao che, ngăn gạch dày 10 cm, hoàn thiện sơn nước, có trần, nền lát gạch bông, mái tôn tráng kẽm gắn liền với phần đất có kí hiệu 198-4 diện tích 70,1m²; phần nhà tiền chế kết cấu móng bê tông cốt thép, khung cốt thép, mái tôn tráng kẽm, vách tôn một phần xây gạch không trần, nền xi măng bên trong có một phần diện tích và kết cấu là tường xây gạch gắn liền với phần có kí hiệu 198-5 diện tích 176,6m²; hàng rào trụ đà bê tông cốt thép tường xây lửng cao dưới 0,8m, phía trên vách tôn tráng kẽm (có họa đồ kèm theo).
Chị Nguyễn Thị Tuyết T, anh Phạm Hữu T1, cháu SaTake Hữu P (do chị Tuyết T giám hộ) phải có trách nhiệm trả lại cho ông Lê Quốc Đ, bà Lê Thị Thanh T3, chị Lê Thị Thanh N số tiền 59.206.500đ (Năm mươi chín triệu hai trăm lẻ sáu nghìn năm tram đồng) là giá trị các cây trồng trên đất bao gồm 06 (sáu) cây dừa trên 10 năm tuổi, 02 (hai) cây mận trên 10 năm tuổi và 01 (một) cây cóc 15 năm tuổi, 01 (một) bụi tre 15 năm tuổi cùng chi phí hỗ trợ di dời cây mai, chi phí đốn chặt cây bông sua đũa và 10% giá trị phần nhà tiền chế gắn liền với phần đất có kí hiệu 198-5.
Chị Nguyễn Thị Tuyết T, anh Phạm Hữu T1, cháu Satake Hữu P (do chị T giám hộ) được quyền sở hữu các cây trồng trên đất gồm 06 (sáu) cây dừa trên 10 năm tuổi, 02 (hai) cây mận trên 10 năm tuổi, 01 (một) cây cóc 15 năm tuổi, 01 (một) bụi tre 15 năm tuổi.
Ông Lê Quốc Đ, bà Lê Thị Thanh T3, chị Lê Thị Thanh N và cháu Lê Thị Tú A được quyền lưu cư trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết T, anh Phạm Hữu T1, cháu SaTake Hữu P (do chị Tuyết T giám hộ) đối với việc buộc ông Lê Quốc Đ, bà Lê Thị Thanh T3, chị Lê Thị Thanh N, cháu Lê Thị Tú A trả lại phần đất có kí hiệu 198-3 diện tích 150,8m².
Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Lê Quốc Đ về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng phần đất có kí hiệu 198-4, 198-5 thuộc một phần thửa 198, tờ bản đồ số 13, tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre và yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 2424 quyền số 04/2018 giữa ông Lê Văn T4, bà Đặng Thị Thu H sang bà Lê Thị Anh Đ1.
Đối với phần diện tích 3,3m² có kí hiệu 197-1; phần diện tích 2,0m² có kí hiệu 197-2; phần diện tích nhà tiền chế 17,9 m² do ông Đ quản lý sử dụng gắn liền với phần có kí hiệu 1000-2 và phần đất có kí hiệu 1000-2 diện tích 17,9m² là đất giao thông nông thôn; phần nhà tạm ông Đ quản lý sử dụng thuộc phần có kí hiệu 202-1 diện tích 3,3m², phần có kí hiệu 198-6 diện tích 0,6m² Tòa án không xem xét giải quyết.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 31/10/2024, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết T, anh Nguyễn Hữu T6 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không buộc nguyên đơn trả cho bị đơn giá trị cây trồng và công trình kiến trúc trị giá 59.206.500 đồng và không đồng đồng ý để bị đơn lưu cư 03 tháng.
Ngày 04/11/2024, bị đơn ông Lê Quốc Đ kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, buộc nguyên đơn hoàn lại cho bị đơn giá trị các công trình kiến trúc mà ông đã xây dựng trên các phần đất có kí hiệu 198-4, 198-5, 198-2 theo kết quả định giá và thời hạn lưu cư là 06 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn chị T, anh T6 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo không đồng ý trả cho bị đơn giá trị cây trồng và công trình kiến trúc trị giá 59.206.500 đồng và không đồng đồng ý để bị đơn lưu cư 03 tháng; bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo yêu cầu nguyên đơn hoàn lại cho bị đơn giá trị các công trình kiến trúc mà ông đã xây dựng trên các phần đất có kí hiệu 198-4, 198-5, 198-2 theo kết quả định giá và thời hạn lưu cư là 06 tháng.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị Tuyết T, anh Phạm Hữu T1, không chấp nhận kháng cáo của chị ông Lê Quốc Đ, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 135/2024/DS-ST ngày 22/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của chị Nguyễn Thị Tuyết T, anh Phạm Hữu T1, ông Lê Quốc Đ; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn, bị đơn chị Nguyễn Thị Tuyết T, anh Phạm Hữu T1, ông Lê Quốc Đ kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Lê Thị Thanh T3, chị Lê Thị Thanh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Phần đất tranh chấp qua đo đạc thực tế có diện tích 876,4m² thuộc thửa 198, tờ bản đồ số 13, tọa lạc xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre. Phần đất tranh chấp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho chị Nguyễn Thị Tuyết T, anh Lê Hữu T7, cháu Satake Hữu P nhưng bị đơn ông Đ, bà T3, chị N, cháu Tú A đang quản lý, sử dụng một phần thửa đất.
Nguyên đơn căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất yêu cầu gia đình bị đơn di dời tài sản, trả lại phần đất tranh chấp có kí hiệu 198-1, 198-2, 1998-4, 18-5. Bị đơn cho rằng trong thửa đất 198 có một phần đất do bị đơn nhận chuyển nhượng từ người khác nên chỉ đồng ý trả lại các phần có kí hiệu 198-1, 198-2, không đồng ý trả lại các phần 198-4 và 198-5.
[2.2] Đối với phần quyết định của bản án sơ thẩm, buộc ông Đ, bà T3, chị N, cháu Tú A trả lại cho nguyên đơn các phần đất có kí hiệu 198-1, 198-2, 198-4, 198-5, bị đơn không có kháng cáo, Viện kiểm sát không có kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét lại.
[2.3] Đối với kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn về tài sản trên đất:
[2.3.1] Về công trình kiến trúc: Cả nguyên đơn và bị đơn đều cho rằng mình người người xây dựng nhà và các công trình kiến trúc trên các phần đất có kí hiệu 198-2, 198-4 và 198-5. Tuy nhiên, cả nguyên đơn và bị đơn đều không cung cấp được chứng cứ trực tiếp chứng minh cho trình bày của mình mà chỉ có các chứng cứ gián tiếp là những văn bản xác nhận của những người làm chứng.
Đối với các chứng cứ do bị đơn cung cấp là văn bản trình bày ý kiến và cam kết của ông T4, bà H (cha mẹ của ông Đ), trong quá trình tố tụng trước đây giữa bà Lê Thị Anh Đ1 với ông Lê Quốc Đ thì ông T4, bà H cũng có tường trình, nội dung tường trình và nội dung của văn bản trình bày ý kiến mâu thuẫn nhau về việc mua đất, xây nhà nên không có cơ sở để xem xét lời trình bày của ông T4, bà H. Đối với trình bày của ông Đỗ Văn L, tại phiên tòa sơ thẩm ông L cho rằng “văn bản xác nhận do tự nguyên đơn và bị đơn mỗi bên đánh máy soạn sẵn, tôi chỉ ký tên, khi ký tên thì tôi có nói tôi làm Trưởng ấp từ năm 2002, còn việc nhà cất trên đất tranh chấp thì tôi không rõ” nên văn bản do bị đơn cung cấp đơn xác nhận của ông L ngày 17/09/2024 cũng không có cơ sở để xem xét. Đối với các bản phô tô hóa đơn giá trị gia tăng, phiếu giao hàng, biên nhận do ông Đ cung cấp cũng không thể hiện được các vật liệu này phục vụ cho công trình kiến trúc nào, có phải là các tài sản mà các bên đang tranh chấp hay không nên cũng không đủ căn cứ đê xác định ông Đ là người xây dựng các công trình kiến trúc trên đất.
Trong khi đó, bản tường trình của bà Lê Hồng H1 ngày 26/12/2019, bản tường trình của bà Lê Thị Thu T8 ngày 26/12/2019 họ đều chị em ruột của bà Đ1 và ông Đ trình bày thống nhất tất cả nhà, công trình trên đất trên đất tranh chấp do bà Đ1 xây cất, ông Đ có mở rộng thêm căn nhà tiền chế mà không hỏi ý kiến bà Đ1, bà Đào định báo chính quyền nhưng ông T4 và bà H ngăn cản. Lời trình bày của ông H1, bà T8 phù hợp với lời trình bày của những người làm chứng là bà Nguyễn Thị Thu V tại bản tường trình ngày 26/12/2019, ông Lê Minh Đ2 tại bản tường trình ngày 12/12/2019, ông Nguyễn Thanh Q tại bản tường trình ngày 25/12/2019, văn bản xác nhận của bà Nguyễn Kim T9 đề ngày 21/10/2024. Do đó, có cơ sở khẳng định bà Đ1 là người xây cất công trình trên đất bao gồm căn nhà chính gắn liền thửa 198-4 và nhà tiền chế gắn liền trên thửa đất 198-5, hàng rào trên đất.
Bị đơn cung cấp thêm xác nhận của ông Nguyễn Ngọc H2 về việc thi công nhà, văn bản ý kiến của ông Lê Quốc K, xác nhận của bà Trần Thị M về việc mua bán vật liệu xây dựng và các bản photo hóa đơn mua vật liệu xây dựng, xét thấy các chứng cứ trên không phải là chứng cứ trực tiếp chứng minh cho trình bày của bị đơn mà chỉ có các chứng cứ gián tiếp của những người làm chứng. Hơn nữa, các hóa đơn là bản phô tô không thể hiện được các vật liệu này phục vụ cho công trình kiến trúc nào, có phải là các tài sản mà các bên đang tranh chấp hay không nên cũng không đủ căn cứ để xác định ông Đ là người xây dựng các công trình kiến trúc trên đất.
Trong quá trình sử dụng các công trình này, ông Đ có mở rộng thêm, điều này được chính bà Đ1 khi còn sống thừa nhận tại bản tự khai ngày 15/11/2019 “xây dựng phần phía trước nhà làm nhà tiền chế ngang 9 mét dài khoảng 5 mét”. Do đó, có căn cứ xác định gia đình ông Đ có một phần công sức đóng góp mở rộng thêm một phần căn nhà tiền chế phía trước. Tuy nhiên, việc mở rộng này chỉ là một phần của nhà tiền chế trên phần đất kí hiệu 198-5 nên cấp sơ thẩm buộc nguyên đơn bồi hoàn 10% giá trị phần diện tích căn nhà tiền chế gắn liền thửa 198-5 là phù hợp.
Căn nhà tạm trên thửa đất 198-2 diện tích 61,1m² nguyên đơn đồng ý cho bị đơn di dời và toàn quyền sở hữu nên ghi nhận.
[2.3.2] Đối với các cây trồng trên đất:
Gia đình bị đơn đã quản lý, sử dụng đất trong thời gian dài, nguyên đơn không
chứng minh được đã trồng cây trên đất trước thời điểm gia đình ông Đ quản lý đất, đồng thời nguyên đơn cũng thừa nhận gia đình ông Đ là người trực tiếp thu hoạch huê lợi đối với cây trồng trên đất. Do đó, cấp sơ thẩm xác định cây trồng trên đất do gia đình bị đơn trồng là có căn cứ. Khi nguyên đơn được sở hữu cây trồng thì nguyên đơn phải có trách nhiệm bồi hoàn giá trị cây trồng cho gia đình ông Đ. Đồng thời việc trồng cây của bị đơn cũng không bị nguyên đơn ngăn cản, do đó nguyên đơn phải có nghĩa vụ hỗ trợ tiền di dời, đốn chặt đối với các cây trồng khác là phù hợp.
[3] Về quyền lưu cư:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, gia đình bị đơn phải di dời toàn bộ tài sản ra khỏi phần đất tranh chấp trong khi cả gia đình bị đơn đang sinh sống tại phần đất này. Do đó, để tạo điều kiện cho gia đình bị đơn có đủ thời gian để chuyển qua nơi ở mới, ổn định cuộc sống, cấp sơ thẩm quyết định cho bị đơn được lưu cư 03 tháng là phù hợp. Bị đơn kháng cáo đề nghị kéo dài thời gian lưu cư 06 tháng nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh có khó khăn về chỗ ở, cần nhiều thời gian hơn để ổn định cuộc sống nên không được chấp nhận. Nguyên đơn kháng cáo không đồng ý cho bị đơn lưu cư, buộc bị đơn phải di dời tài sản ra khỏi phần đất ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, xét thấy việc thay đổi chỗ ở của cả gia đình cần phải có một khoảng thời gian để thực hiện, tránh gây ra những biến động lớn không cần thiết trong cuộc sống của bị đơn nên việc lưu cư 03 tháng là phù hợp, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Từ những nhận định trên, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn di dời tài sản trả lại phần đất tranh chấp, đồng thời buộc nguyên đơn trả 10% giá trị nhà tiền chế, giá trị cây trồng và tuyên về quyền lưu cư là phù hợp. Nguyên đơn, bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu của mình nên không được chấp nhận. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm không tuyên buộc bị đơn di dời 02 cây mai, đốn chặt 01 cây sua đũa là có thiếu sót, đồng thời có nhầm lẫn trong khi ghi nhận diện tích các phần đất không có tranh chấp nên cấp phúc thẩm điều chỉnh lại các phần này.
[4] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên chị Nguyễn Thị Tuyết T, anh Lê Hữu T7, ông Lê Quốc Đ phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị Tuyết T, anh Lê Hữu T7;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Quốc Đ;
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 135/2024/DS-ST ngày 22/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
Áp dụng Điều 166, 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 688 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 170 Luật Đất đai năm 2013; Điều 5, Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Lê Quốc Đ, bà Lê Thị Thanh T3, chị Lê Thị Thanh N, cùng cháu Lê Thị Tú A phải di dời nhà tạm trên phần đất có kí hiệu 198-2 diện tích 61,1m² trả lại cho chị Nguyễn Thị Tuyết T, anh Phạm Hữu T1, cháu SaTake Hữu P (do chị Nguyễn Thị Tuyết T giám hộ) quyền sử dụng đất thuộc các phần có kí hiệu 198-1 diện tích 417,2m², 198-2 diện tích 61,1m², 198-4 diện tích 70,1m², 198-5 diện tích 176,6m² có tổng diện tích là 725m² thuộc một phần thửa 198, tờ bản đồ số 13, tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre và quyền sở hữu các công trình kiến trúc gắn liền các thửa đất trên gồm: Căn nhà chính kết cấu móng cột dầm bê tông, cốt thép, tường bao che, ngăn gạch dày 10cm, hoàn thiện sơn nước, có trần, nền lát gạch bông, mái tôn tráng kẽm gắn liền với phần đất có kí hiệu 198-4 diện tích 70,1m²; phần nhà tiền chế kết cấu móng bê tông cốt thép, khung cốt thép, mái tôn tráng kẽm, vách tôn một phần xây gạch không trần, nền xi măng bên trong có một phần diện tích và kết cấu là tường xây gạch gắn liền với phần có kí hiệu 198-5 diện tích 176,6m²; hàng rào trụ đà bê tông cốt thép tường xây lửng cao dưới 0,8m, phía trên vách tôn tráng kẽm (có họa đồ kèm theo).
Chị Nguyễn Thị Tuyết T, anh Phạm Hữu T1, cháu SaTake Hữu P (do chị Nguyễn Thị Tuyết T giám hộ) phải có trách nhiệm trả lại cho ông Lê Quốc Đ, bà Lê Thị Thanh T3, chị Lê Thị Thanh N số tiền 59.206.500đ (Năm mươi chín triệu hai trăm lẻ sáu nghìn năm tram đồng) là giá trị các cây trồng trên đất bao gồm 06 (sáu) cây dừa trên 10 năm tuổi, 02 (hai) cây mận trên 10 năm tuổi và 01 (một) cây cóc 15 năm tuổi, 01 (một) bụi tre 15 năm tuổi cùng chi phí hỗ trợ di dời 02 cây mai, chi phí đốn chặt 01 cây bông sua đũa và 10% giá trị phần nhà tiền chế gắn liền với phần đất có kí hiệu 198-5.
Chị Nguyễn Thị Tuyết T, anh Phạm Hữu T1, cháu Satake Hữu P (do chị T giám hộ) được quyền sở hữu các cây trồng trên đất gồm 06 (sáu) cây dừa trên 10 năm tuổi, 02 (hai) cây mận trên 10 năm tuổi, 01 (một) cây cóc 15 năm tuổi, 01 (một) bụi tre 15 năm tuổi.
Buộc ông Lê Quốc Đ, bà Lê Thị Thanh T3, chị Lê Thị Thanh N và cháu Lê Thị Tú A có nghĩa vụ di dời 02 cây mai, đốn chặt 01 cây bông sua đũa.
Ông Lê Quốc Đ, bà Lê Thị Thanh T3, chị Lê Thị Thanh N và cháu Lê Thị Tú A được quyền lưu cư trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết T, anh Phạm Hữu T1, cháu SaTake Hữu P (do chị Nguyễn Thị Tuyết T giám hộ) đối với việc buộc ông Lê Quốc Đ, bà Lê Thị Thanh T3, chị Lê Thị Thanh N, cháu Lê Thị Tú A trả lại phần đất có kí hiệu 198-3 diện tích 150,8m².
Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Lê Quốc Đ về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng phần đất có kí hiệu 198-4, 198-5 thuộc một phần thửa 198, tờ bản đồ số 13, tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre và yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 2424 quyền số 04/2018 giữa ông Lê Văn T4, bà Đặng Thị Thu H sang bà Lê Thị Anh Đ1.
Đối với phần diện tích 2,0m² có kí hiệu 197-1; phần diện tích 3,1m² có kí hiệu 197-2; phần diện tích nhà tiền chế 17,9m² do ông Đ quản lý sử dụng gắn liền với phần có kí hiệu 1000-2 và phần đất có kí hiệu 1000-1 diện tích 4,9m² là đất giao thông nông thôn; phần nhà tạm ông Đ quản lý sử dụng thuộc phần có kí hiệu 202-1 diện tích 3,3m², phần có kí hiệu 198-6 diện tích 0,6m² Tòa án không xem xét giải quyết.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[2] Về chi phí tố tụng:
Buộc ông Lê Quốc Đ, bà Lê Thị Thanh T3, chị Lê Thị Thanh N phải liên đới chịu chi phí thu thập chứng cứ 13.902.000₫ (Mười ba triệu chín trăm lẻ hai nghìn đồng). Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng toàn bộ số tiền này nên buộc ông Lê Quốc Đ, bà Lê Thị Thanh T3, chị Lê Thị Thanh N có trách nhiệm liên đới hoàn lại cho chị Nguyễn Thị Tuyết T, anh Phạm Hữu T1, cháu SaTake Hữu P (do chị Nguyễn Thị Tuyết T giám hộ) số tiền 13.902.000đ (Mười ba triệu chín trăm lẻ hai nghìn đồng).
[3] Về án phí:
[3.1] Về án phí sơ thẩm:
Buộc ông Lê Quốc Đ, bà Lê Thị Thanh T3, chị Lê Thị Thanh N phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).
Buộc chị Nguyễn Thị Tuyết T, anh Phạm Hữu T1, cháu Satake Hữu P (do chị Nguyễn Thị Tuyết T giám hộ) phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.960.000₫ (Hai triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng).
H3 lại cho anh Phạm Hữu T1 số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000821 ngày 13/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
H3 lại cho chị Nguyễn Thị Tuyết T số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000822 ngày 13/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
H3 lại cho ông Lê Quốc Đ số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003089 ngày 18/09/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
[3.2] Án phí phúc thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Tuyết T, anh Phạm Hữu T1, ông Lê Quốc Đ mỗi người phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mỗi người đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006213 ngày 05/11/2024, số 0006295 và 0006296 cùng ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Chi cục
thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Hương |
Bản án số 152/2025/DS-PT ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 152/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THỊ TUYẾT T YÊU CẦU LÊ QUỐC Đ TRẢ LẠI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
