|
TAND HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 152/2024/HSST Ngày 27/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
—
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Trung Phước.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Vương; Bà Nguyễn Thị Khánh Ly.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên tòa: Bà Kiều Thị Thắm - Kiểm sát viên
Ngày 27/9/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 153/2024/TLST-HS ngày 13/9/2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2024/QĐXXST-HS ngày 13/9/2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: VŨ THỊ NGỌC H; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 22/01/1987, tại huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKHKTT: Khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi ở: Bản H, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; Con ông Vũ Hải T, sinh năm 1953 và bà Ngô Thị T1, sinh năm 1956; Gia đình bị cáo có 03 anh, em; bị cáo là con thứ ba; Bị cáo có chồng là Tạ Ngọc P, sinh năm 1983 và 02 người con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/6/2024, tạm giam từ ngày 16/6/2024, đến ngày 03/7/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh (có mặt).
-
Họ và tên: PHẠM VĂN T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 15/6/1976, tại huyện K, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; Con ông Phạm Văn T2, sinh năm 1947 và bà Nguyễn Thị C (đã chết, không xác định được năm sinh); Gia đình bị cáo có 04 anh, em; bị cáo là con thứ hai; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1980 và 02 người con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: không.
1
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/6/2024, tạm giam từ ngày 16/6/2024, đến ngày 28/6/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh (có mặt).
Điều tra viên tham gia phiên toà: Đại uý Nguyễn Ngọc N1 - Điều tra viên; Nơi công tác: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Từ đầu tháng 6 năm 2024, Vũ Thị Ngọc H thực hiện việc ghi số lô, số đề trái phép và dựa trên kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng hàng ngày để cá cược nhau bằng số tiền, cụ thể như sau:
Số lô: là số gồm hai chữ trong dãy số tự nhiên từ 00 đến 99, người chơi có thể mua một hoặc nhiều điểm lô cho một số, giá mỗi điểm lô là 22.500 đồng/điểm. Nếu số lô mà người chơi đã chọn mua trùng với 02 số cuối của kết quả 27 giải (từ Giải Đặc biệt đến Giải B) xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng cùng ngày thì người chơi thắng và sẽ được nhận số tiền 80.000 đồng/điểm lô. Nếu số lô mà người chơi đã chọn mua trùng nhiều lần trong 27 giải (từ Giải Đặc biệt đến Giải B) thì tiền thưởng cũng được nhân lên theo số lần trùng số điểm lô đó nhưng không quá ba lần. Trong trường hợp người mua lô không trúng thì sẽ bị mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra để mua số lô đó.
Số đề gồm (hai càng và ba càng): là số gồm hai hoặc ba chữ số trong dãy tự nhiên bất kỳ từ 000 đến 999. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền B, nếu các số mà người chơi đã chọn mua trùng với 02 số cuối (hai càng) hoặc 03 số cuối (ba càng) của G Đặc biệt thì người mua số đề thắng. Tỷ lệ trúng thưởng đối với “hai càng” là mua 01 trúng gấp 70 lần, đối với “ba càng” là mua 01 trúng gấp 400 lần, người mua số đề chỉ phải trả 85% số tiền cược mua, (ví dụ: mua số đề 100.000 đồng thì người mua chỉ phải trả 85.000 đồng, nếu trúng thưởng đối với “hai càng” thì được nhận 7.000.000 đồng, đối với “ba càng” thì được nhận 40.000.000 đồng).
Về cách thức mua bán số lô, số đề được thực hiện như sau: người chơi nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho Vũ Thị Ngọc H để mua các số lô, số đề. Sau khi H xác nhận bằng cách nhắn tin trả lời “ok” thì người mua chuyển tiền cho H qua ứng dụng Ngân hàng trên điện thoại vào số tài khoản của H. Sau khi chuyển tiền thì người mua lô, đề gửi hình ảnh (đã giao dịch chuyển khoản) thành công qua Zalo cho Vũ Thị Ngọc H. Trong trường hợp người mua không chuyển khoản thì có thể trả bằng tiền mặt cho Vũ Thị Ngọc H và mua lô, đề ngày nào thì trả tiền ngày đó. Sau khi có kết quả mở thưởng giải xổ số kiến thiết M, Vũ Thị Ngọc H đối chiếu nếu người mua số lô, số đề thắng thì H chuyển tiền trả cho người trúng thưởng qua ứng dựng Ngân hàng trên điện thoại di động đến tài khoản của người trúng thưởng hoặc trả trực tiếp bằng tiền mặt.
Trong các ngày từ ngày 04/6/2024, đến ngày 06/6/2024, Phạm Văn T3 đã dùng tài khoản Zalo có tên “Pham Van T4” của mình nhắn tin đến tài khoản Zalo có tên “HÀ HƯƠNG” của Vũ Thị Ngọc H để mua các số lô, số đề của Vũ Thị Ngọc H. Khi T3 mua số lô, số đề thì chuyển tiền trên ứng dụng Ngân hàng qua điện thoại di động vào số tài khoản 7805205036025 của Vũ Thị Ngọc H mở tại Ngân hàng N2 (A). Nếu T3 trúng thưởng thì H trả thưởng cho T3 bằng việc chuyển tiền trên ứng dụng Ngân hàng qua điện thoại vào số tài khoản 108595769999 của Phạm Văn T3 mở tại Ngân hàng C1 (V), cụ thể:
Ngày 04/6/2024, Phạm Văn T3 mua 07 số lô tương ứng với 150 điểm với giá 3.375.000 đồng và 28 số đề = 2.805.000 đồng của Vũ Thị Ngọc H, tổng số tiền mua lô, đề là 6.180.000 đồng. Kết quả mở thưởng ngày 04/6/2024, Phạm Văn T3 trúng 02 số lô, trong đó có 01 số lô trúng hai lần (trùng với 02 số cuối của 02 giải) = 60 điểm lô, thắng được số tiền 4.800.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 04/6/2024 giữa Phạm Văn T3 và Vũ Thị Ngọc H là 10.980.000 đồng.
Ngày 05/6/2024, Phạm Văn T3 mua 09 số lô = 180 điểm với giá 4.050.000 đồng và 20 số đề = 1.700.000 đồng của Vũ Thị Ngọc H, tổng số tiền mua lô, đề là 5.750.000 đồng. Kết quả mở thưởng ngày 05/6/2024, xác định Phạm Văn T3 trúng 03 số lô = 60 điểm lô, thắng được số tiền 4.800.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 05/6/2024 giữa Phạm Văn T3 và Vũ Thị Ngọc H là 10.550.000 đồng.
Ngày 06/6/2024, Phạm Văn T3 mua 11 số lô = 220 điểm với giá 4.950.000 đồng và 44 số đề = 3.910.000 đồng của Vũ Thị Ngọc H, tổng số tiền mua lô, đề là 8.860.000 đồng. Kết quả mở thưởng cùng ngày, xác định Phạm Văn T3 trúng 01 số lô = 20 điểm và 01 số đề “hai càng” trúng 200.000 đồng tiền đề, T3 thắng được số tiền 15.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 06/6/2024 giữa Phạm Văn T3 và Vũ Thị Ngọc H là 24.460.000 đồng.
Hồi 17 giờ 25 phút ngày 07/6/2024, Công an huyện T triệu tập Vũ Thị Ngọc H lên trụ sở để làm việc về nội dung liên quan tới giải quyết vụ việc vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc mà Công an huyện T đang thụ lý. Quá trình làm việc tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, khi Vũ Thị Ngọc H đang mở điện thoại đưa cho lực lượng Công an xem xét, thì vào hồi 17 giờ 37 phút, ứng dụng Zalo trên điện thoại của H thông báo nhận được tin nhắn mới từ tài khoản Zalo “Pham Van T4” với nội dung: mua 15 số lô = 360 điểm với giá 8.100.000 đồng và 73 số đề = 6.375.000 đồng. Lúc này, Vũ Thị Ngọc H khai nhận tin nhắn Zalo gửi đến là của Phạm Văn T3 mua số lô, số đề. Cơ quan điều tra yêu cầu H trước đây nhận ghi số lô, số đề của khách như thế nào thì thực hiện thao tác bình thường như vậy. Thực hiện theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Vũ Thị Ngọc H trả lời tin nhắn Z cho Phạm Văn T3 với nội dung “ok”. Ngay sau đó, Phạm Văn T3 đã chuyển số tiền 14.475.000 đồng qua tài khoản cho Vũ Thị Ngọc H để mua các số lô, số đề. Sau đó, Cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Văn T3, thu giữ 01 điện thoại di động S S21 Ultra 5G màu trắng (có lắp 02 thẻ sim) của Phạm Văn T3. Kiểm tra điện thoại của Phạm Văn T3, phát hiện và ghi nhận các tin nhắn về việc mua số lô, số đề, chuyển tiền và nhận thưởng giữa Phạm Văn T3 và Vũ Thị Ngọc H từ ngày 04/6/2024, đến ngày 07/6/2024. Cơ quan điều tra đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vũ Thị Ngọc H, thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C1 màu xanh nước biển (có lắp 01 thẻ sim) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 màu xanh (có lắp 01 thẻ sim).
Vật chứng: 02 điện thoại di động thu giữ của Vũ Thị Ngọc H và 01 điện thoại di động thu giữ của Phạm Văn T3 và 03 vỏ phong bì niêm phong hiện đang được bảo quản
3
theo quy định.
Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Vũ Thị Ngọc H giao nộp Biên bản làm việc tại Cơ quan CSĐT Công an huyện T với nội dung: “Sau khi Cơ quan điều tra ra Bản kết luận điều tra vụ án hình sự, xác định nội dung các số lô, số đề Phạm Văn T3 nhắn tin đến đánh chỗ Vũ Thị Ngọc H trong ngày 07/6/2024 khi H đang làm việc với Cơ quan điều tra và H không nhận các số lô, số đề này nhưng để phục vụ công tác điều tra, Cơ quan điều tra yêu cầu H xác nhận việc nhận số lô, số đề T3 đánh như bình thường. Khi Vũ Thị Ngọc H nhắn tin lại, Phạm Văn T3 đã chuyển khoản số tiền đánh 14.750.000 đồng. Xét thấy việc Vũ Thị Ngọc H nhắn tin lại cho T3 là làm theo yêu cầu của Cơ quan điều tra vì khi làm việc với cơ quan điều tra Vũ Thị Ngọc H biết việc nhận số lô, số đề của bản thân là sai phạm. Số tiền 14.750.000 đồng Phạm Văn Tịnh chuyển cho Vũ Thị Ngọc H1 ngày 07/6/2024 đã được Hà chuyển lại cho T3”.
Cáo trạng số 118/CT-VKS ngày 13/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, truy tố các bị cáo Vũ Thị Ngọc H, Phạm Văn T3 phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321/Bộ luật hình sự.
Quá trình điều, tra truy tố, và tại phiên toà các bị cáo Vũ Thị Ngọc H, Phạm Văn T3 đều đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian và địa điểm, cách thức các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Tại phiên toà, các bị cáo cung cấp được một số bằng khen, giấy khen của thân nhân và của bản thân để làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, trình bày lời luận tội, thay đổi, bổ sung quan điểm truy tố theo hướng: Các bị cáo không phạm tội lần đầu, nên không đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51/bộ luật hình sự đối với các bị cáo như nội dung đề xuất trong Cáo trạng. Đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Vũ Thị Ngọc H. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Thị Ngọc H. Phạm Văn T3 phạm tội “Đánh bạc”. Về hình phạt, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 36/Bộ luật hình sự đối với cả hai bị cáo. (Áp dụng thêm điểm t khoản 1 Điều 51/Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Thị Ngọc H). Xử phạt Vũ Thị Ngọc H từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng cải tạo không giam giữ, xử phạt Phạm Văn T3 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm cải tạo không giam giữ, khấu trừ, quy đổi thời gian đã giam, giữ các bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn khấu trừ thu nhập và buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106/Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra 5G màu trắng (có lắp 02 thẻ sim mạng V1), đã qua sử dụng thu giữ của Phạm Văn T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme vỏ màu xanh nước biển (có lắp 01 thẻ sim Vinaphone), đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu xanh (có lắp 01 sim V1), đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Thị Ngọc H; Truy thu số tiền đánh bạc là 45.990.000 đồng, trong đó thu của bị cáo H số tiền 20.790.000 đồng, thu của bị cáo T3 số tiền 25.200.000 đồng; Tịch thu tiêu hủy 03 vỏ bì niêm phong vật chứng để tiêu huỷ.
Điều tra viên tham gia phiên toà đề nghị: Đối với số tiền 14.750.000 đồng mà Vũ Thị Ngọc H nhận đánh bạc của Phạm Văn T3 vào ngày 07/6/2024 là do có sự tác động ý chí của Cơ quan điều tra khi bị cáo H1 đang làm việc với cơ quan điều tra, nhằm chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo. Số tiền này bị cáo H đã trả lại cho bị cáo T3. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý lần đánh bạc này, đồng thời đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51/Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Thị Ngọc H, vì đã tích cực phối hợp với cơ quan điều tra phát hiện ra hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Văn T3.
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với vụ án theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42/Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
-
Về hành vi phạm tội và cấu thành tội phạm: Trong các ngày 04/6/2024, ngày 05/6/2024 và ngày 06/6/2024, tại khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu, bằng cách nhắn tin qua ứng dụng Zalo và chuyển tiền qua ứng dụng tài khoản Ngân hàng trên điện thoại di động, Phạm Văn T3 và Vũ Thị Ngọc H đã 03 lần thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức mua bán số lô, số đề, cá cược nhau bằng tiền, dựa trên kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng hàng ngày. Trong đó, tổng số tiền đánh bạc (bao gồm cả tiền cược và tiền trúng thưởng) giữa Phạm Văn T3 và Vũ Thị Ngọc H ngày 04/6/2024 là 10.980.000 đồng, ngày 05/6/2024 là 10.550.000 đồng, ngày 06/6/2024 là 24.460.000 đồng.
Hành vi các bị cáo Vũ Thị Ngọc H, Pham Văn T5 thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321/Bộ luật hình sự.
-
Về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào trật tự quản lý hành chính Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo Vũ Thị Ngọc H, Pham Văn T5 là những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi Đánh bạc là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý.
-
Về mục đích phạm tội của bị cáo: Các bị cáo Vũ Thị Ngọc H, Pham Văn T5 thực hiện hành vi đánh bạc nhằm cá cược và thu lời bất chính.
-
Về nhân thân các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Vũ Thị Ngọc H, Pham Văn T5 đều được sinh ra trong những gia đình lao động, nhưng không tu dưỡng rèn luyện, chấp hành quy định của pháp luật mà bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội Đánh bạc. Như vậy nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố hành vi phạm tội và đề xuất mức hình phạt đối hai bị cáo là có căn cứ chấp nhận. Cần có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo Phạm Văn T3 được Ủy ban nhân dân huyện T và Chủ tịch UBND huyện T tặng nhiều Giấy khen vì có nhiều thành tích, cống hiến tại địa phương. Bị cáo Vũ Thị Ngọc H có cha đẻ là ông Vũ Hải T được tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý như Huy chương bảo vệ an ninh tổ quốc của Bộ trưởng Bộ C2, Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh L, Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh L và nhiều danh hiệu cao quý khác. Vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Đối với bị cáo Vũ Thị Ngọc H, bị cáo đã tích cực phối hợp với Cơ quan điều tra trong việc phát hiện hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Văn T3. Tại phiên toà, Điều tra viên, Kiểm sát viên đề nghị HĐXX áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51/Bộ luật hình sự đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận.
Đây là vụ án đồng phạm giải đơn, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, tính chất nguy hiểm cho xã hội mà hành vi phạm tội các bị cáo gây ra là tương đương nhau, tuy nhiên bị cáo Vũ Thị Ngọc H có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn bị cáo Phạm Văn T3, nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt so với bị cáo T3.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cả hai bị cáo đều có 03 lần đánh bạc, thuộc trường hợp phạm tội từ hai lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52/Bộ luật hình sự.
Các bị cáo trước khi phạm tội đều có nhân thân tốt, đều có nơi cư trú ổn định, các bị cáo đều đã bị tạm giam trong một khoảng thời gian nhất định. Qua nghị án, xét thấy không cần thiết phải tiếp tục áp dụng hình phạt tù có thời hạn, mà tạo điều kiện để các bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật.
-
Về vật chứng của vụ án, số tiền các bị cáo dùng đánh bạc và thắng bạc: Đối với 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra 5G màu trắng (có lắp 02 thẻ sim mạng V1), đã qua sử dụng thu giữ của Phạm Văn T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme vỏ màu xanh nước biển (có lắp 01 thẻ sim Vinaphone), đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu xanh (có lắp 01 sim V1), đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Thị Ngọc H, đây là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu, hoá giá sung vào ngân sách Nhà nước. Tổng số tiền 45.990.000 đồng, trong đó thu của bị cáo H số tiền 20.790.000 đồng nhận đánh bạc, thu của bị cáo T6 số tiền 25.200.000 đồng tiền thắng bạc, cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với 03 phong bì niêm phong vật chứng, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.
-
Về khấu trừ thu nhập: Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, có thể xem xét khấu trừ thu nhập, tuy nhiên các bị cáo có thu nhập không ổn định nên không khấu trừ thu nhập của các bị cáo theo khoản 3 Điều 36/Bộ luật hình sự.
-
Vấn đề khác liên quan trong vụ án: Quá trình điều tra còn xác định trong ngày 05/6/2024, Vũ Thị Ngọc H đã bán 02 số lô 50 điểm với giá 1.150.000 đồng cho một người sử dụng tài khoản Zalo có tên “Điện Tử Điện Lạnh”. Người mua lô chuyển tiền cho H qua số tài khoản ngân hàng của Phạm Hữu X (sinh năm: 1982, nơi đăng ký thường trú: khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu). Kết quả mở thưởng người này trúng 01 số lô = 25 điểm, thắng 2.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 3.150.000 đồng. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng hiện tại Phạm Hữu X không có mặt tại địa phương, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau. Hành vi đánh bạc trái phép này của Vũ Thị Ngọc H chưa đến mức xử lý hình sự nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý hình sự là có căn cứ.
Kết quả kiểm tra và khôi phục dữ liệu trên điện thoại của Vũ Thị Ngọc H còn xác định: ngày 07/6/2024, có người sử dụng tài khoản Z mang tên “Phạm H2” mua 03 số lô = 30 điểm với số tiền 675.000 đồng và 184 số đề = 1.683.000 đồng của Vũ Thị Ngọc H và một người sử dụng tài khoản Z mang tên “Trần Thanh T7” mua một số đề (ba càng) = 20.000 đồng của Vũ Thị Ngọc H. Tuy nhiên, Vũ Thị Ngọc H chưa xác nhận bán số lô, số đề cho những người dùng các tài khoản Zalo nói trên nên hành vi bán số lô, số đề của Vũ Thị Ngọc H chưa hoàn thành, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ. Đối với những người mua số lô, số đề trên, bản thân Vũ Thị Ngọc H không biết nhân thân, lai lịch và cũng không có số tài khoản Zalo, không có số điện thoại hoặc thông tin tra cứu, nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Đối với hành vi của Phạm Văn T3 ngày 07/6/2024 nhắn tin qua Zalo với nội dung mua các số lô, số đề của Vũ Thị Ngọc H. Sau khi nhận được tin nhắn “ok” xác nhận của Vũ Thị Ngọc H, Phạm Văn T3 đã chuyển số tiền 14.475.000 đồng cho H để mua số lô, số đề. Tại thời điểm Phạm Văn T3 nhắn tin mua các số lô, số đề thì Vũ Thị Ngọc H đang làm việc với Cơ quan điều tra, việc H nhắn tin “ok” để xác nhận là thực hiện theo yêu cầu của Cơ quan điều tra nhằm phục vụ việc phát hiện, điều tra tội phạm và người phạm tội. Do vậy, Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý Vũ Thị Ngọc H và Phạm Văn T3 về lần đánh bạc này là có căn cứ. Số tiền này H trả lại cho T3 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Theo lời khai của Vũ Thị Ngọc H, sau khi nhận tiền cược từ những người mua số lô, số đề, H tổng hợp các con số rồi nhắn tin cho một người sử dụng tài khoản Zalo tên “A H3” và chuyển tiền đánh bạc vào số tài khoản 8871588911 mở tại Ngân hàng Đ (B1) mang tên DAO MINH TRỊ. Những thông tin tài khoản Zalo và số tài khoản ngân hàng này do Hà Văn T8 (sinh năm: 1992, nơi đăng ký thường trú: bản Mé, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu) cung cấp cho H. Với mỗi điểm lô H được hưởng “tiền hoa hồng” là 500 đồng, đối với số đề, H được hưởng “tiền hoa hồng” là 5% trên tổng số tiền khách mua. Sau khi chuyển tổng hợp số lô, số đề và chuyển tiền, nếu có người thắng cược thì H được người nhận số lô, số đề trả tiền qua tài khoản ngân hàng trên để trả thưởng cho khách mua. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và đề nghị phía Ngân hàng B1 cung cấp thông tin khách hàng sử dụng số tài khoản trên. Tuy nhiên, hiện nay Hà Văn T8 không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến Hà Văn T8 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
-
Về biện pháp ngăn chặn: Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đối với các bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự (áp dụng thêm điểm t khoản 1 Điều 51/Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Thị Ngọc H); Điều 36, Điều 17, Điều 58, điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; điểm a, điểm b khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23/Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vũ Thị Ngọc H, Pham Văn T5 phạm tội “Đánh bạc”.
-
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Thị Ngọc H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được trừ 27 (hai mươi bảy) ngày giam, giữ, tương đương 81 (tám mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ, nay buộc bị cáo phải chấp hành tiếp 02 (hai) năm 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ; Xử phạt bị cáo Phạm Văn T3 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được trừ 20 (hai mươi) ngày giam, giữ, tương đương 60 (sáu mươi) ngày cải tạo không giam giữ, nay buộc bị cáo phải thi hành tiếp 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt của các bị cáo tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Lai Châu được quyết định thi hành án. Người bị kết án phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 99, 100, 101 của Luật Thi hành án hình sự.
Giao bị cáo Vũ Thị Ngọc H, Phạm Văn T3 cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Không khấu trừ thu nhập của các bị cáo.
-
Về vật chứng: Tịch thu 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra 5G màu trắng (có lắp 02 thẻ sim mạng V1), đã qua sử dụng thu giữ của Phạm Văn T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme vỏ màu xanh nước biển (có lắp 01 thẻ sim Vinaphone), đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu xanh (có lắp 01 sim V1), đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Thị Ngọc H để hoá giá, sung vào ngân sách Nhà nước. Tịch thu 03 bì niêm phong vật chứng để tiêu huỷ
Các vật chứng nêu trên đang được bảo quản, lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên. Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19/9/2024 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên.
-
Về số tiền đánh bạc: Truy thu 20.790.000₫ (hai mươi triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng) tiền đánh bạc của Vũ Thị Ngọc H; Truy thu 25.200.000₫ (hai mươi lăm triệu hai trăm nghìn đồng) tiền đánh bạc của Phạm Văn T3 để sung vào ngân sách Nhà nước.
-
Về án phí: Các bị cáo Vũ Thị Ngọc H, Phạm Văn T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
-
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
9
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Trung Phước |
Bản án số 152/2024/HSST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về vụ án hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 152/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị Ngọc H cùng đồng bọn đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề trái phép
