Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 152/2024/HS-ST

Ngày: 29 - 08 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Thái Thị Hồng Vân

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành

Bà Hoàng Thị Hường

Ông Trần Mai Khanh

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Phương Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2024/TLST-HS ngày 19/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 325/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Ông Quốc L1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 01/5/1972; N sinh: Huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: K, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông: Ông Bính M, (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị P (Đã chết); Anh chị em ruột: 04 người, bị cáo là con đầu; Vợ, con: Không có.

Tiền án, tiền sự:

  • Ngày 24/4/1995 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 9 tháng tù về tội “Tổ chức dùng chất ma túy”, Đã chấp hành xong hình phạt ngày 29/12/1995.
  • Ngày 29/7/1997 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Tổ chức dùng chất ma túy”, 06 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam giữ”. Tổng hợp hình phạt của 02 (hai) tội là 24 tháng tù. Đã chấp hành xong hình phạt ngày 08/4/1999.
  • Ngày 13/4/2001 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 7 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã chấp hành xong hình phạt ngày 22/7/2007.
  • Ngày 24/4/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 9 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đã chấp hành xong hình phạt ngày 13/9/2016.
  • Ngày 28/8/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xử phạt 5 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt ngày 11/12/2022.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2024 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt

2. Họ và tên: Lộc Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 15/5/1980; N sinh:Huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: bản N, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 0/12 (Không biết chữ); Con ông: Lộc Văn H1, (Đã chết) và bà Lộc Thị Đ, (Đã chết); Vợ thứ nhất: Lê Thị H2, sinh năm 1984 (Đã ly hôn); Vợ thứ hai: Vi Thị B, sinh năm 1982 (Đã ly hôn); Con: có 04 người lớn nhất sinh năm 2000 nhỏ nhất sinh năm 2008; Anh chị em ruột: 05 người, bị cáo là con thứ ba.

Tiền án:

  • Ngày 27/8/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chấp hành xong ngày 06/2/2024.

Nhân thân:

  • Ngày 21/4/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 6 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 04/6/2015.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2024 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

  • + Người bào chữa cho bị cáo Ông Quốc L1: Bà Đặng Thị Hương L, sinh năm 1956 - Luật sư văn phòng L2, Đoàn luật sư tỉnh N. Có mặt.
  • + Người bào chữa cho bị cáo Lộc Văn H: Bà Hoàng Thị Thu H3, sinh năm 1984 - Trợ giúp viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt.
  • + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Ông Thị H7; Địa chỉ: Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 2018, Lộc Văn H và Ông Quốc L1 quen biết nhau khi đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Sau khi ra tù, H và L1 thường xuyên gặp nhau và có sử dụng ma túy cùng nhau. Khoảng đầu tháng 4/2024 L1 đi lên khu vực bản Mường Lống, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An mua 01 (Một) gói ma túy hồng phiến của người đàn ông dân tộc Mông với giá 1.500.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ ngày 07/4/2024, Ông Quốc L1 đến nhà Lộc Văn H tại xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An lấy một ít ma túy bỏ trong túi quần ra để sử dụng, số ma tuý còn lại thì L1 cất giấu trong ống nứa làm phên tường của nhà Lộc Văn H để vừa sử dụng vừa bán. Tại nhà Lộc Văn H, L1 lấy heroine bỏ trong bơm kim tiêm pha với nước cất rồi tiêm vào cơ thể và sử dụng H4 phiến bằng cách đốt trên giấy bạc rồi hít. Thấy L1 sử dụng ma túy, H xin L1 ma túy để sử dụng nhưng L1 nói đã hết ma túy.

Chiều tối ngày 08/4/2024, Ông Quốc L1 đi xe máy nhãn hiệu Sirius, biển số 37H1-180.88 đón T, bạn của L1, ở huyện N, rồi cả hai đi đến nhà của một người đàn ông dân tộc Mông tên T1 ở khu vực bản Mường Lống, xã T, huyện Q để mua ma túy (L1 không rõ tên tuổi, địa chỉ của T1) mua 10 gói ma túy dạng hồng phiến với giá là 13.000.000 (Mười ba triệu) đồng và 01 (Một) gói heroin với giá là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, sau đó, T1 cho L1 thêm một ít ma túy đá gói trong bao ni lông. Mua được ma túy, L1 và T ngủ ở nhà của T1 đến khoảng 19 giờ ngày 09/4/2024, T điều khiển xe máy nhãn hiệu Sirius, biển số 37H1-180.88 chở L1 quay về. Khi cả hai đi đến khu vực lâm trường thuộc xã C, huyện Q thì T xuống xe. L1 một mình điều khiển xe máy về nhà của Lộc Văn H ở bản N, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An để nghỉ. Tại nhà của H, L1 ngồi ở dưới giường lấy ma túy ra chia thành các gói nhỏ với mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Sau đó L1 lấy một ít ma túy H5 bỏ vào bơm kim tiêm rồi tiêm vào cơ thể mình và lấy 01 (Một) viên ma túy dạng hồng phiến bỏ trên giấy bạc rồi đốt hít. Lúc này H xin L1 ma túy để sử dụng nhưng L1 nói bán với giá 30.000 (Ba mươi ngàn) đồng một viên hồng phiến. H nhận ma túy từ L1 rồi lấy chai nhựa có gắn ống hút do H chuẩn bị từ trước để sử dụng ma túy.

Sau khi sử dụng ma túy, L1 lấy số ma túy vừa chia nhỏ ra gồm: một túi ni lông màu vàng chứa ma túy hồng phiến; một túi ni lông chứa ma túy đá; 18 gói Heroin bỏ tất cả vào trong một túi ni lông màu xanh (túi zip) giấu trong quần lót L1 đang mặc. Số ma túy còn lại gồm hai túi ni lông màu vàng được buộc lại với nhau bằng dây chun (Một túi đựng 08 túi hồng phiến và một túi heroine; túi ni lông còn lại đựng hai túi hồng phiến), L1 đưa ra cất giấu dưới gốc bụi cây chuối ở phía trước nhà H rồi quay vào nhà ngủ.

Đến khoảng 02 giờ ngày 10/04/2024, lực lượng Công an vào kiểm tra thu giữ số ma tuý Ông Quốc L1 cất giấu trong quần lót đang mặc. Do nghi ngờ gói ni lông màu vàng mà L1 cất giấu ngoài bụi chuối là ma tuý nên H đã khai, chỉ vị trí để Cơ quan Công an thu giữ. Ngày 29/4/2024, Ông Quốc L1 tự thú về hành vi cất giấu ma túy của mình, ngày 30/4/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét chỗ ở của Lộc Văn H theo lời khai của L1 thu giữ bên trong bức tường phên tre của nhà Lộc Văn H 01 gói ni lông màu xanh bên trong chứa nhiều viên nén màu hồng (Nghi là ma túy) do Ông Quốc L1 cất giấu trước đó.

Kết luận giám định số 415/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 17/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

  • Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Ông Quốc L1 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,55 g (Không phẩy năm mươi lăm gam).
  • 02 (Hai) mẫu chất cục bột màu trắng thu giữ của Ông Quốc L1 gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là D, có khối lượng 10,43 g (Mười phẩy bốn mươi ba gam).
  • 11 (Mười một) mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Ông Quốc L1 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 200,7 g (Hai trăm phẩy bảy gam)".

Kết luận giám định số 483/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 07/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

“Mẫu viên nén màu hồng thu giữ khi khám xét chỗ ở của Lộc Văn H vào ngày 30/4/2024 gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 6,95 g (Sáu phẩy chín mươi lăm gam)”.

Vật chứng vụ án:

Thu giữ của Ông Quốc L1 gồm: 200,7 gam ma túy Methamphetamine đã lấy 28,49 gam để giám định còn lại 172,21 gam; 10,43 gam ma túy Heroine đã lấy 2,79 gam để giám định còn lại 7,64 gam; 0,55 gam ma túy Methamphetamine đã lấy 0,08 gam để giám định còn lại 0,47 gam; 6,95 gam ma túy Methamphetamine đã lấy 1,19 gam để giám định còn lại 5,76 gam; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, đã qua sử dụng; 02 bơm kim tiêm màu trắng; 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen vàng biển số 37H1-180.88 đã qua sử dụng thu giữ của Ông Quốc L1.

Thu giữ của Lộc Văn H gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu oppo màu đen; 01 (Một) chai nhựa gắn ống hút thu giữ tại gốc cây chuối trước nhà Lộc Văn H.

Quá trình điều tra, xác định chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen vàng, biển kiểm soát 37H1-180.88 thu giữ của Ông Quốc L1 qua xác minh xác định chủ sử hữu là Cao Văn Đ1 (Sinh năm 1997, trú tại xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An). Khoảng năm 2020 Cao Văn Đ1 bán xe mô tô trên cho Ông Thị H7 (Sinh năm 1980, trú tại: thị trấn T, huyện Q, tỉnh Nghệ An) - em gái của Ông Quốc L1. Ông Thị H7 đã cho Ông Quốc L1 mượn xe mô tô nói trên và Ông Thị H7 không biết việc L1 sử dụng xe mô tô trên để đi mua ma túy.

Đối với 02 điện thoại di động thu giữ của Ông Quốc L1 và Lộc Văn H quá trình điều tra xác định L1, H không sử dụng 02 (Hai) điện thoại di động trên để thực hiện hành vi phạm tội.

Bản cáo trạng số 156/CT-VKS-P1 ngày 18 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Ông Quốc L1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự; Lộc Văn H về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 256 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm h khoản 4 điều 251, điểm s, r khoản 1 điều 51, điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ông Quốc L1 20 (Hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 10/4/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 256, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lộc Văn H 02 (H6) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”; Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 10/4/2024.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy; Trả lại cho chị Ông Thị H7 01 chiếc xe máy, trả lại cho bị cáo Ông Quốc L1 01 chiếc điện thoại di động, trả lại cho bị cáo Lộc Văn H 01 chiếc điện thoại di động.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Ông Quốc L1 không tranh luận về tội danh, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, để xử phạt các bị cáo mức hình phạt thấp nhất. Đề nghị trả lại xe máy và 01 chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Lộc Văn H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, hoàn cảnh khó khăn, là người dân tộc thiểu số nên không hiểu biết pháp luật để xem xét cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất. Đề nghị trả lại 01 chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Các bị cáo nhất trí như lời bào chữa của luật sư đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - chị Ông Thị H7: Chiếc xe máy cơ quan điều tra đã thu giữ của chị, chị không biết bị cáo Ô Quốc L1 sử dụng xe máy để đi mua ma tuý. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe máy cho cho chị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các luật sư, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng qui định của pháp luật.
  2. Tại phiên tòa, các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo Ông Quốc L1 và Lộc Văn H tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ khẳng định: Khoảng đầu tháng 4/2024 tại khu vực bản Mường Lống, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An Ông Quốc L1 mua 01 (Một) gói ma túy dạng Methamphetamine của một người đàn ông dân tộc Mông với giá 1.500.000 đồng. Ngày 07/4/2024, Ông Quốc L1 mang số ma túy mua được và một ít ma túy (Heroine) đến nhà Lộc Văn H. Tại nhà Lộc Văn H, L1 lấy một ít ma túy sử dụng còn lại 6,95 gam L1 cất giấu tại nhà Lộc Văn H để vừa sử dụng vừa bán. Lộc Văn H thấy L1 sử dụng ma túy tại nhà của mình nhưng để mặc cho L1 sử dụng.

    Chiều tối ngày 08/4/2024, Ông Quốc L1 mua của một người đàn ông dân tộc Mông tên T1 200,7 gam ma túy (Methamphetamine); 10,43 gam ma túy (Heroine); 0,55 gam ma túy (M) với giá 13.300.000 (Mười ba triệu ba trăm ngàn) đồng mục đích để sử dụng và bán cho người khác kiếm lời. Đến khoảng 19 giờ ngày 09/4/2024, Ông Quốc L1 mang số ma túy mua được đến nhà của Lộc Văn H, tại nhà H, L1 lấy một ít ma túy sử dụng. Lộc Văn H xin L1 ma túy để sử dụng nhưng L1 nói bán với giá 30.000 (Ba mươi ngàn) đồng một viên ma túy (Methamphetamine), H nhận ma túy từ L1 để sử dụng ma túy. Sau khi L1 sử dụng ma túy thì mang số ma túy vừa mua đem đi cất giấu, đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 10/4/2024, thì bị Công an tỉnh N phát hiện và bắt quả tang.

    Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Ông Quốc L1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 điều 251 Bộ luật hình sự và bị cáo Lộc Văn H về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 256 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  3. Về tính chất vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo không những gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an ninh xã hội, nguyên nhân sâu xa làm phát sinh các tội phạm khác mà còn làm suy thoái giống nòi, phá hoại hạnh phúc và kinh tế gia đình, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện. Bị cáo Ông Quốc L1 và Lộc Văn H nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Ông Quốc L1 phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Bị cáo Lộc Văn H để cho bị cáo Ông Quốc L1 sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà của mình hai lần và biết rõ hành vi chứa chấp cho người khác sử dụng ma tuý nhưng vẫn để cho bị cáo H sử dụng ma tuý phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng.

    Các bị cáo đã nhiều lần bị xét xử về tội phạm ma tuý. Nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội. Do đó, cần có một hình phạt nghiêm khắc đối với từng bị cáo để có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung

  4. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hai bị cáo đã bị xét xử nhưng chưa được xoá án tích, do đó bị cáo Ông Quốc L1 phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm nguy hiểm, bị cáo Lộc Văn H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Ông Quốc L1 và Lộc Văn H khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét trong quá trình quyết định hình phạt đối với các bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

  5. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo chưa thu lợi từ hành vi phạm tội, gia đình hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản có giá trị, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo.
  6. Về vật chứng:
    • Ma túy là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy 200,7 gam ma túy Methamphetamine đã lấy 28,49 gam để giám định còn lại 172,21 gam; 10,43 gam ma túy Heroine đã lấy 2,79 gam để giám định còn lại 7,64 gam; 0,55 gam ma túy Methamphetamine đã lấy 0,08 gam để giám định còn lại 0,47 gam; 6,95 gam ma túy Methamphetamine đã lấy 1,19 gam để giám định còn lại 5,76 gam; 02 bơm kim tiêm màu trắng thu giữ của Ông Quốc L1 và 01 (Một) chai nhựa gắn ống hút thu giữ tại gốc cây chuối trước nhà Lộc Văn H.
    • Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen vàng biển số 37H1-180.88 đã qua sử dụng thu giữ của Ông Quốc L1, là phương tiện phạm tội. Tuy nhiên, chiếc xe do bị cáo mượn của chị Ô Thị H7, chị H7 không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy, nên cần trả lại cho chị H7.
    • 01 điện thoại di động nhãn hiệu oppo màu đen của bị cáo Lộc Văn H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh của bị cáo Ông Quốc L1, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho các bị cáo.
  7. Đối với người đàn ông tên T1, theo lời khai của Ông Quốc L1 là người bán ma túy cho L1 nhưng L1 không biết rõ lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ, xử lý trong vụ án.
  8. Đối với người đàn ông tên T, theo lời khai của Ông Quốc L1 là người chở L1 đi lên khu vực bản Mường Lống, xã T, huyện Q nhưng T không biết mục đích của L1 là đi mua ma túy và L1 cũng không biết rõ lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ, xử lý trong vụ án
  9. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm h khoản 4 điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Ông Quốc L1 20 (Hai mươi) năm tù . Thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2024.

    Căn cứ khoản 1 Điều 256, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lộc Văn H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2024.

    Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo Ông Quốc L1, Lộc Văn H.

  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự.

    - Tịch thu tiêu huỷ:

    • 01 phong bì màu nâu, bên trong chứa 172,21 gam ma túy Methamphetamine (Ma túy dạng hồng phiến); 7,64 gam ma túy Heroine; 0,47 gam Methamphetamine (Ma túy dạng đá);
    • 01 phong bì bên trong chứa 5,76 gam Methamphetamine (Ma túy dạng hồng phiến);
    • 02 bơm kim tiêm màu trắng thu giữ của Ông Quốc L1 và 01 (một) chai nhựa gắn ống hút thu giữ tại gốc cây chuối trước nhà Lộc Văn H.

    - Trả lại cho chị Ông Thị H7 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen vàng biển số 37H1-180.88 đã qua sử dụng thu giữ của Ông Quốc L1.

    - Trả cho bị cáo Lộc Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu oppo màu đen, trả lại cho bị cáo Ông Quốc L1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh đã qua sử dụng.

    (Chi tiết đặc điểm có tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/7/2024, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh N và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Ông Quốc L1 và Lộc Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo Ông Quốc L1 và Lộc Văn H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội./.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND TT T, UBND xã D;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 152/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm h khoản 4 điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 ,điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Ông Quốc L1 20 (Hai mươi) năm tù . Thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2024. Căn cứ khoản 1 Điều 256, điểm s khoản 1 Điều 51 ,điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lộc Văn H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger