Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số:152/2024/HS-ST

Ngày: 16/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Nam Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thụy

Bà Bùi Thị Hạnh

- Thư ký phiên toà: Bà Đồng Minh Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

- Đại diện VKSND quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Vũ Ngọc K - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 143/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 08 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 343/2024/QĐXXST-HS ngày tháng năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Hữu H - sinh năm 1989

Nơi thường trú: Thôn D, xã Y, huyện H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hữu H1 và bà Lưu Thị L; có vợ là Phan Thị N và 01 con; tiền sự: không; tiền án:

- Tại Bản án số 40/2016/HSST, ngày 21/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, bị cáo bị xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Phạm tội tháng 7/2013). Bị cáo chưa thi hành án phí dân sự sơ thẩm và khoản sung quỹ nhà nước.

- Tại Bản án số 67/2021/HSST, ngày 17/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, bị cáo bị xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/09/2021.

- Tại Bản án số 110/2022/HSST, ngày 31/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, bị cáo bị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/05/2023.

Nhân thân: Tại Bản án số 02/2008/HSST, ngày 05/08/2008 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/5/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13h55 phút ngày 15/05/2024, 01 đối tượng sử dụng số điện thoại 0398.658.xxx gọi đến số điện thoại 0364.825.xxx của Trần Hữu H để hỏi mua 01 gói heroine, H đồng ý bán với giá 300.000 đồng và hẹn đối tượng đến ngõ D K, quận B, thành phố Hà Nội để giao tiền. Một lúc sau, đối tượng đến đưa cho H 300.000 đồng, H cầm tiền rồi điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 34B4 - 80774 đến khu vực phố N, phường N, quận B, thành phố Hà Nội tìm mua ma túy. Tại đây, H đã mua 01 xilanh bên trong có ma túy Heroine của một đối tượng không quen biết với giá 200.000 đồng. Mua xong, H cất xilanh chứa Heroine vào trong túi quần phía trước bên phải rồi điều khiển xe máy quay lại ngõ D K để bán ma túy. Khi H đi đến khu vực chợ N1, phường N, quận B, Hà Nội thì bị Công an phường N bắt quả tang cùng vật chứng.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • + 01 xi lanh bên trong chứa chất bột màu trắng.
  • + 01 điện thoại Samsung Galaxy A51 màu xanh, sim số 0364825889.
  • + 100.000 VNĐ.
  • + 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 34B4 - 80774

Bản kết luận giám định số 3610/KLGĐ – PC09 ngày 24/05/2024 của phòng PC09 – C kết luận: “ Chất bột màu trắng bên trong 01 xilanh là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,128 gam”.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Trần Hữu H và mua ma túy của Trần Hữu H, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được lai lịch, nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 34B4 – 80774 (số khung: 116012, số máy: 128619) thu giữ của Trần Hữu H, H khai nhận chủ sở hữu là của 01 người bạn tên T (không rõ lai lịch) để tại nhà H nhờ giữ hộ.

Quá trình điều tra xác định biển số xe máy 34B4 – 80774 và số khung: 116012, số máy: 128619 là không trùng khớp, của 02 xe máy khác nhau. Qua giám định số khung, số máy xác định số khung 116012, số máy 128619 là nguyên thủy, không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả. Do đó, chuyển chiếc xe máy trên và toàn bộ vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Với nội dung trên bản cáo trạng số 142/CT-VKSBĐ ngày 15/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Hữu Hoàng về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: điểm q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Trần Hữu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 07 năm 6 tháng tù đến 08 năm tù.

Hình phạt bổ sung: không đề nghị, do bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định.

Về vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 xi lanh bên trong chứa chất bột màu trắng.
  • + Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Samsung Galaxy A51 màu xanh, sim số 0364825889 và 100.000 VNĐ.
  • + Một chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 34B4 – 80774 đã qua sử dụng, xử lý chiếc xe máy này như sau: Hết thời hạn 12 tháng kể từ ngày đăng tin tìm chủ sở hữu là ngày 16/7/2024, nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp có yêu cầu thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, hết thời hạn trên, chiếc xe máy này sẽ được tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung truy tố của cáo trạng và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 14h15' ngày 15/5/2024, tại khu vực chợ N1, phường N, quận B, Hà Nội, bị cáo đã có hành vi mang 0,128 gam Heroine đi bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an phường N, quận B, thành phố Hà Nội bắt quả tang cùng vật chứng.

Ngày 21/6/2016, tại Bản án số 40/2016/HSST của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, bị cáo bị xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chưa thi hành án phí dân sự sơ thẩm và khoản sung quỹ nhà nước. Tại Bản án số 67/2021/HSST, ngày 17/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, bị cáo bị xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/09/2021. Tại Bản án số 110/2022/HSST, ngày 31/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, bị cáo bị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/05/2023. Như vậy bị cáo đã tái phạm nguy hiểm, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Hữu H có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy là chất gây

nghiện được nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi phạm tội liên quan đến ma túy nhưng vì hám lời bị cáo vẫn cố ý mua bán trái phép chất ma túy. Mặt khác hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân dẫn đến tội phạm và các tệ nạn xã hội khác.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy rằng:

Bị cáo Trần Hữu H khi phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nhưng bị cáo là người có nhiều tiền án: Tại Bản án số 40/2016/HSST, ngày 21/06/2016 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, bị cáo bị xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 67/2021/HSST, ngày 17/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, bị cáo bị xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 110/2022/HSST, ngày 31/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, bị cáo bị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài ra nhân thân bị cáo ngày 05/08/2008, tại Bản án số 02/2008/HSST của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, bị cáo bị xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo không lấy đây làm bài học để rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện bị cáo là người rất liều lĩnh, coi thường pháp luật vì vậy cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như vậy mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Xử lý vật chứng:

  • - Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong bao niêm phong, hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành vì vậy cần áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma này.
  • - Đối với 01 điện thoại Samsung Galaxy A5 1 màu xanh lắp sim số 0364825889 thu giữ của bị cáo là chiếc điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc mua

bán trái phép chất ma tuý, vì vậy căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hai chiếc điện thoại này.

- Số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo do bị cáo bán ma tuý mà có vì vậy căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền này.

- Một chiếc xe máy nhãn hiện Yamaha Exciter, biển kiểm soát 34B4 – 80774 đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định xe máy không có trong cơ sở dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng; giám định số khung, số máy là nguyên thủy. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu hợp pháp. Hiện chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe trên vì vậy căn cứ khoản 2 Điều 228 Bộ luật Dân sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý chiếc xe máy này như sau: Hết thời hạn 12 tháng kể từ ngày đăng tin tìm chủ sở hữu là ngày 16/7/2024, nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp có yêu cầu thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, hết thời hạn trên, chiếc xe máy này dẽ được tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự,

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 228 Bộ luật Dân sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Hữu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Hữu H 07 năm 6 tháng (Bẩy năm sáu tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam là ngày 15/5/2024.

- Về xử lý vật chứng:

  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 bao niêm phong bên trong có 01 xilanh chứa 0,128 gam ma tuý loại Heroine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Trần Hưu H2.
  • + Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Samsung Galaxy A51 Số imail 1: 352353112745333, số Số imail 2:352354112745331 bên trong có sim điện thoại không kiểm tra chất lượng bên trong máy và số tiền 100.000 đồng.
  • + Một chiếc xe máy nhãn hiện Yamaha Exciter, biển kiểm soát 34B4 – 80774 đã qua sử dụng, xử lý chiếc xe máy này như sau: Hết thời hạn 12 tháng kể từ ngày đăng tin tìm chủ sở hữu là ngày 16/07/2024, nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp có yêu cầu thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, hết thời hạn trên, chiếc xe máy này sẽ được tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, theo biên bản giao nhận vật chứng số 197 ngày 30/08/2024 giữa Công an quận B với Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội và Giấy nộp tiền vào tài khoản số:10704451 ngày 29/08/2024 Ngân hàng TMCP C1.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Công an quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình;
  • - Trại tạm giam số I – Công an TP Hà Nội.
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Nam Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 152/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Hữu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger