|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 152/2024/HS-PT
Ngày 29 - 8 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nguyệt
Các thẩm phán: Bà Trương Thị Anh;
Ông Lê Ngọc Lâm.
- Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Xuân Đạt-Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Thiều Thị Hương - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 203/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Vi Văn T do có kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HSST ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Bị cáo: Vi Văn T, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2005, tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu phố X, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Vi Văn T1, sinh năm 1982; Mẹ đẻ: Hà Thị M, sinh năm 1984; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 1; Tiền án; Không. Tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
Bị hại: Bà Ngô Thị H, sinh năm 1950 (Đã chết)
Địa chỉ: Thôn H xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
Đại diện hợp pháp gia đình Bị hại: Anh Lê Trung K, sinh năm 1984. Có mặt
Địa chỉ: Thôn H xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Người làm chứng:
- Anh Trịnh Xuân P, sinh năm 1993. Vắng mặt
Địa chỉ: Khu 3 thị trấn Sao Vàng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
- Chị Lê Thị Kim C, sinh năm 2006. Có mặt
Địa chỉ: Thôn H xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985. Có mặt
Địa chỉ: Thôn H xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
- Chị Hà Thị M, sinh năm 1984. Có mặt
Địa chỉ: Khu phố X, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, tại phiên toà phúc thẩm nội dung vụ án được tóm tắt như sau :
Chiều tối ngày 13/02/2024 Vi Văn T một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36D1- 190.03 đi từ xã T huyện N về nhà tại thị trấn T, huyện T. Khoảng 19 giờ 45 phút Vi Văn T điều khiển xe mô tô đến đường H đoạn qua thôn H xã X, huyện T ở phần đường bên phải theo chiều đi của mình. Thời điểm này trời đã tối, do không làm chủ tốc độ nên T không chủ động quan sát được người và phương tiện di chuyển phía trước. Cùng lúc này bà Ngô Thị H (sinh năm 1950, trú tại: Thôn H xã X, huyện T) đi bộ qua đường theo chiều từ trái sang phải so với hướng di chuyển của T. Khi bà Ngô Thị H đi bộ qua hơn nửa đường (sang phần đường mà xe mô tô của Vi Văn T đang đi đến) cách xe mô tô khoản 1 - 2m thì Vi Văn T mới phát hiện thấy bà H. Do khoảng cách quá gần nên T không kịp xử lý, dẫn đến phần đầu xe mô tô do Vi Văn T điều khiển đâm va vào người bà Ngô Thị H. Sau khi sảy ra va chạm Vi Văn T cùng xe mô tô trượt ngã khoảng 30 - 40m trên mặt đường. Bà Ngô Thị H bị thương bất tỉnh, được đưa đi cấp cứu nhưng trên đường đi đã tử vong.
Tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Vi Văn T tại thời điểm 21h 02 phút ngày 13/02/2024, kết quả: 0,000mg/L.
Kết luận giám định số 1144/KL-KTHS ngày 23/02/2024 của V Bộ C3 kết luận: Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa chất ma túy trong mẫu máu của Vi Văn T.
Hiện trường nơi sảy ra tai nạn giao thông là đoạn Km 570+950 đường H thuộc địa phận thôn H xã X, huyện T. Đoạn đường thẳng được rãi nhựa rộng 8,2m, dốc thoải xuống theo chiều đường từ Bắc qua N, trong đó hướng Bắc là hướng đi huyện N; H là hướng đi huyện T; H tiếp giáp với các hộ ông Trịnh Đình D, Lê Xuân K1, Nguyễn Văn S; Hướng Tây tiếp giáp với các hộ bà Ngô Thị H, Nguyễn Văn C1. Ở giữa đường có vạch kẻ sơn màu vàng nét đứt.
Lấy cột mốc ký hiệu Km 571 tại lề đường phải đường H theo hướng từ Bắc qua N là điểm mốc, từ điểm mốc kẻ đường thẳng vuông góc với vạch sơn màu vàng nét đứt tại giữa đường, tạo thành đường cố định (Ký hiệu A); Lấy mép đường phải đường H theo hướng từ Nam qua B là vạch chuẩn (Ký hiệu B), phát hiện:
- 01 vết cà trượt không liên tục trên mặt đường dài 31,15m. Vết có chiều N (hơi chếch Đ- T). Vị trí vết: Đầu vết các A là 69,5m về hướng B, cách B là 2,25m; Cuối vết cách B là 3,22m. Vết có diện rộng nhất là 0,55m, gồm các vết đơn là 0,01m - 0,025m. Kí hiệu 1.
- 01 vết chấm màu nâu đỏ đã khô, kích thước (0,6 x 0,18)m. T3 vết cách đầu vết (1) là 3.8m về hướng Đ, cách B là 0,5m(trên lề đường). Ký hiệu 2.
- Xe mô tô biển kiểm soát 36D1- 190.03 được dựng đứng tại lề đường, có đầu xe quay hướng Tây, đuôi xe quay hướng Đông. Vị trí xe mô tô: T3 trục bánh xe trước cách B 0,9m, cách điểm cuối vết (1) là 4,2m về hướng Đ; T3 trục bánh xe sau cách B là 2,1m. Ký hiệu (3).
Xác minh biển báo giao thông đường bộ:
- Tại lề đường bên phải theo hướng từ huyện T đi huyện N, cách vị trí sảy ra tai nạn khoảng 250m có biển báo giao nhau với đường không ưu tiên (Biển 207 C).
- Tại lề đường bên phải theo hướng từ huyện T đi huyện N, cách vị trí sảy ra tai nạn khoảng 150m có biển cảnh báo “đi chậm” (biển W.245a).
Kết quả khám nghiệm phương tiện:
Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh T giám định dấu vết cơ học liên quan đến vụ tai nạn giao thông, xác định dấu vết trên xe mô tô như sau:
- Xe mô tô biển kiểm soát 36D1-190.03:
+ Mặt lăn má phải lốp trước (tương ứng sau hàng chữ “VIP”) có vết tỳ trượt làm sạch bụi đất, mòn cao su, kích thước (19x4,5)cm, vết có chiều từ ngoài vào tâm, ngược chiều chuyển động tiến, bề mặt vết in các vân sọc song song. Cạnh hoa văn lốp rộng 2,7cm, cách nhau 0,5cm.
+ Mặt ngoài bên phải chắn bùn bánh trước giảm sóc trước bên phải, bên phải mặt nạ, cánh yếm bên phải, ốp nhựa bên phải đầu xe có vết tì trượt làm sạch bụi đất trong diện (80 x 70)cm, vết có chiều từ trước về sau, chếch từ dưới lên trên. Bề mặt vết in các vân sọc song song(dạng vân vải), vết cao so với mặt đất là 27cm- 107cm.
+ Cụm đèn chiếu sáng phía trước bị vỡ rời khỏi xe.
+ Mặt trước ngoài bên trái đầu xe, cánh yếm bên trái, giá để chân trước bên trái, ốp nhựa bên trái thân xe, bên trái tay nâng có các vết cà trượt làm mòn nhựa, kim loại và cao su, chiều hướng vết từ trước về sau, từ trên xuống dưới, bề mặt vết bám dính chất màu trắng đục(dạng bột đá).
Kết luận giám định số 956/KL-KTHS ngày 08/3/2024 của phòng K2 Công an tỉnh T kết luận: Không đủ cơ sở xác định va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 36D1-190.03 và bà Ngô Thị H.
Các vết ghi nhận tại mặt lăn má phải lốp trước (tương ứng sau hàng chữ “VIP”) mặt ngoài bên phải chắn bùn bánh trước giảm sóc trước bên phải, bên phải mặt nạ, cánh yếm bên phải, ốp nhựa bên phải đầu xe mô tô biển kiểm soát 36D1-190.03 phù hợp do va chạm với chất liệu vải sợi tạo nên.
Tại thời điểm sảy ra tai nạn xe mô tô biển kiểm soát 36D1-190.03 chuyển động theo hướng từ huyện T đi huyện N.
- Không đủ cơ sở xác định va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 36D1-190.03 và bà Ngô Thị H tại thời điểm sảy ra tai nạn.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã thu thập 01file video được trích xuất từ camera của nhà bà Trịnh Thị H1, (sinh năm 1978, trú tại: Thôn H xã X, huyện T) ghi nhận nội dung vụ tai nạn giao thông và trưng cầu giám định kỹ thuật số điện tử đối với file video trên tại phòng K2 Công an tỉnh T. Tại Kết luận giám định số 1637/KL-KTHS ngày 23/4/2024 của phòng K2 Công an tỉnh T kết luận:
- Không phát hiện dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video gửi giám định. Trích xuất 06 ảnh của file video trên.
- Không xác định được tốc độ di chuyển của xe mô tô trong vụ tai nạn giao thông.
Cơ quan điều tra đã cho Vi Văn T xem hình ảnh video được trích xuất từ video qua công tác giám định. T xác nhận hình ảnh, video phản ánh đúng diễn biến vụ tai nạn giao thông.
Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trưng cầu phòng K2 Công an tỉnh T giám định pháp y tử thi đối với bà Ngô Thị H. Tại Kết luận giám định tử thi số 897/KLGĐTT-PC09 ngày 06/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận:
- Kết quả khám nghiệm: Các vết xây xước da, bầm tụ máu, sưng nề tại vùng: Đầu, ngực, bụng, hông, mông, tay phải, hai chân; Hố mắt phải tụ máu; Gãy 1/3 trên và 1/3 dưới hai xương cẳng chân phải; Gãy 1/3 dưới hai xương cẳng chân trái; Tụ máu tổ chức dưới da, cơ vùng ngực, bụng; Gãy 1/3 giữa thân xương ức. Gãy cung trước xương sườn 4, 5 bên phải; Gãy cung trước xương sườn 3, 4, 5, 6 bên trái; Máu không đông tại khoang ngực và ổ bụng; Dập, rách, tụ máu thùy trên, thùy dưới phổi trái; D1, vỡ gan.
- Kết luận nguyên nhân chết: Đa chấn thương.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại đề nghị bồi thường số tiền 426.410.000đồng gồm: Mai táng phí 126.410.000đồng; Tổn thất tinh thần 100 tháng lương cơ sở = 180.000.000đồng; Chi phí cấp dưỡng cho con đẻ của bà Lê Thị H2 là anh Lê Trung D2 với mức 500.000đồng/tháng trong 20 năm là 120.000.000đồng.
Hiện tại Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền 24.000.000đồng nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thọ Xuân.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 36D1-190.03, nhãn hiệu HONDA FUTUREF1, màu sơn đen, xám, vàng; Số khung RLHJC5351DY022287, số máy JC54E1036042 không có giấy chứng nhận đăng ký xe và không có Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm Dân sự của chủ xe. Xe mô tô trên là của bà Hà Thị M1(mẹ đẻ của Bị cáo) mua từ năm 2014 của anh Trịnh Xuân P. Quá trình sinh sống đã để mất giấy tờ liên quan đến xe và chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu nên thông tin chủ xe đăng ký vẫn mang tên Trịnh Xuân P. Qua tra cứu hệ thống dữ liệu xe vật chứng, kết quả xe mô tô không là tang vật, vật chứng thuộc vụ án, vụ việc khác. Cơ quan CSĐT đã chuyển xe mô tô trên cho Công an Giao thông xử lý hành chính theo quy định. Bà M đã nhận lại xe và không yêu cầu gì.
Bản án số 47/2024/HSST ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân huyện T, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 điều 260; Điểm s khoản 1, 2 điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Vi Văn T 15(Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án; Không phạt bổ sung đối với Bị cáo;
Về Dân sự: Căn cứ điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 591; Điều 357 Bộ luật Dân sự,
Buộc Bị cáo Vi Văn T phải bồi thường thiệt hại cho cho gia đình bị hại gồm: Chi phí hợp lý cho việc mai táng phí số tiền là 40.000.000đồng; Tổn thất tinh thần theo mức 100 tháng lương cơ sở = 180.000.000đồng. Tổng cộng số tiền 220.000.000đồng; Bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 24.000.000đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự để bồi thường cho gia đình bị hại nên số tiền còn lại là 196.000.000đồng; T4 cấp dưỡng hàng tháng cho anh Lê Trung D2 là 500.000đ/tháng kể từ tháng 02/2024 cho đến khi anh Lê Trung D2 chết.
Đại diện hợp pháp của gia đình bị hại là anh Lê Trung K được nhận số tiền 24.000.000₫ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thọ Xuân theo Biên lai thu tiền số 0002293 ngày 24/6/2024.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác .
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6; 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự .
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/7/2024, đại diện hợp pháp cho bị hại kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét toàn bộ vụ án theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo, về trách nhiệm bồi thường dân sự 220.000.000 đồng là chưa thoả đáng đề nghị tăng mức bồi thường về chi phí mai táng phí.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và tội danh mà Toà án sơ thẩm xét xử là đúng. Người đại diện hợp pháp cho bị hại vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị hại không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:
Đơn kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho bị hại hợp lệ trong thời hạn theo quy định tại các Điều 331,332,333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được chấp nhận để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp cho bị hại. Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 47/2024/HSST ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Về án phí: Kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho bị hại không được chấp nhận nên phải chịu án phí HSPT.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Vào khoảng 19 giờ 45phút ngày 13/02/2024 trên đường H đoạn qua thôn H xã X, huyện T, Bị cáo Vi Văn T có giấy phép lái xe hạng A1, một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36D1- 190.03 đi theo hướng từ huyện N về thị trấn T, huyện T do không chấp hành theo chỉ dẫn biển báo, không làm chủ tốc độ, không chú ý quan sát đã điều khiển xe đâm va vào bà Ngô Thị H đang đi bộ trên đường. Hậu quả làm bà Ngô Thị H tử vong.
Hành vi của bị cáo Vi Văn T đã vi phạm khoản 01 điều 11, khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ; Điểm b khoản 7 điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ; Khoản 1, 6 điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G gây thiệt hại làm chết người. Vì vậy Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Vi Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
[2]. Xét kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại:
Về hình phạt : Bị cáo Vi Văn T tham gia giao thông đường bộ có Giấy phép lái xe hạng A1, đã vi phạm khoản 01 điều 11, khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ; Điểm b khoản 7 điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ; Khoản 1, 6 điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G gây thiệt hại làm chết người. Do đó bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự. Vì vậy Toà án sơ thẩm xét xử bị cáo Vi Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS là đúng người đúng tội.
Cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thành khẩn khai báo. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường được một phần nhỏ thiệt hại cho gia đình bị hại các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố đẻ bị cáo bị bệnh hiểm nghèo, ông bà nội của bị cáo là ông Vi Văn C2 và bà Lương Thị Ó được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, bị cáo phạm tội do lỗi vô ý. Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo 15 tháng tù giam là nghiêm khắc . Vì vậy kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho người bị hại tăng hình phạt của bị cáo là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Về kháng cáo đối với phần dân sự: Đối với yêu cầu về tăng số tiền mai táng phí. Quá trình xét xử tại cấp sơ thẩm đại diện hợp pháp đề nghị bị cáo phải bồi thường số tiền mai táng phí cho giá đình bị hại là 126.410.000đồng. Theo Bảng kê chi tiết đại diện hợp pháp cho bị hại cung cấp tại cấp sơ thẩm có những khoản không hợp lý, không phù hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 591 Bộ luật Dân sự nên không được chấp nhận. Toà án cấp sơ thẩm căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 591 Bộ luật Dân sự, điều 8 Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dânh Tối cao, chấp nhận chi phí hợp lý cho việc mai táng phí gồm: Khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất bà Ngô Thị H với số tiền là 40.000.000đồng là phù hợp. Vì vậy yêu cầu kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho bị hại tăng mức tiền chi phí mai táng phí là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Đối với yêu cầu về tổn thất tinh thần theo mức 100 tháng lương cơ sở là180.000.000đồng Toà án cấp sơ thẩm đã chấp nhận số tiền này theo quy định tại khoản 2 điều 591 Bộ luật Dân sự là đúng quy định pháp luật.
Đối với yêu cầu về Chi phí cấp dưỡng cho con đẻ của bà Lê Thị H2 là anh Lê Trung D2 với mức 500.000đ/tháng trong 20 năm là 120.000.000₫ thì HĐXX thấy rằng: Anh Lê Trung D2 là con trai của bà Ngô Thị H bị khuyết tật theo dạng khuyết tật: Vận động, tâm thần; Mức độ khuyết tật nặng theo Giấy xác nhận khuyết tật số hiệu: 383951555000010. Toà án cấp sơ thẩm căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 591 Bộ luật Dân sự chấp nhận mức cấp dưỡng là 500.000đ/tháng. Tuy tại Toà án cấp sơ thẩm đại diện hợp pháp cho người bị hại yêu cầu bị cáo phải cấp dưỡng cho anh Lê Trung D2 theo phương thức cấp dưỡng một lần trong 20 năm thành tổng số tiền120.000.000đồng và phải nộp ngay cho đại diện gia đình bị hại. Toà án cấp sơ thẩm căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 591 Bộ luật Dân sự chấp nhận theo phương thức cấp dưỡng hàng tháng kể từ tháng 02/2024(Khi bà H chết) cho đến khi anh Lê Trung D2 chết. Vì vậy buộc Bị cáo phải cấp dưỡng cho anh Lê Trung D2 mỗi tháng 500.000₫ kể từ tháng 02/2024 cho đến khi anh Lê Trung D2 chết là phù hợp.
Do vậy kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại về tăng hình phạt đối với bị cáo và đề nghị tăng tiền bồi thường dân sự về tiền chi phí mai táng phí là không có căn cứ không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho bị hại, giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm là có căn cứ được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[4]. Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho bị hại ( Anh Lê Trung K) không được chấp nhận nên anh Lê Trung K phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng; căn cứ điểm e khoản 2 Điều 23; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
[5]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm e khoản 2 Điều 23, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho bị hại.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HSST ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 điều 260; Điểm s khoản 1, 2 điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Vi Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án;
Không phạt bổ sung đối với Bị cáo;
Về Dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 591; Điều 357 Bộ luật Dân sự,
Buộc Bị cáo Vi Văn T phải bồi thường thiệt hại cho cho gia đình Bị hại gồm: Chi phí hợp lý cho việc mai táng phí số tiền là 40.000.000đồng; Tổn thất tinh thần theo mức 100 tháng lương cơ sở là 180.000.000đồng. Tổng số tiền 220.000.000đồng; Bị cáo được trừ số tiền 24.000.000đồng đã tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự. Số tiền còn lại là 196.000.000đồng; T4 cấp dưỡng hàng tháng cho anh Lê Trung D2 là 500.000đ/tháng kể từ tháng 02/2024 cho đến khi anh Lê Trung D2 chết.
Đại diện hợp pháp của gia đình bị hại là anh Lê Trung K được nhận số tiền 24.000.000đồng bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thọ Xuân theo Biên lai thu tiền số 0002293 ngày 24/6/2024.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác .
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6; 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự .
* Về án phí phúc thẩm: Anh Lê Trung K ( người đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại) phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng
2. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Nguyệt |
Bản án số 152/2024/HS-PT ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 152/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi Văn T “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
