Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 152/2024/HS-PT

Ngày: 24/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tiến
Các Thẩm phán: Ông Phạm Tấn Hoàng
Ông Nguyễn Chí Công

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng với điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 103/2024/TLPT-HS ngày 20 tháng 02 năm 2024 do có kháng cáo của các bị cáo Phú Văn H, Lê Thị Xuân T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Phú Văn H (Tên gọi khác: N), sinh ngày 10/6/1999 tại tỉnh Phú Yên. Hộ khẩu thường trú: Khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Nơi ở: Khu phố M, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Không, trình độ văn hóa (học vấn): 10/12, giới tính: Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam, con ông Phú Văn R, sinh năm 1976 và bà Lương Thị T1, sinh năm 1974, sống chung như vợ chồng với Lê Thị Xuân T, sinh năm 2002, tiền án; tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam từ ngày 22/12/2022 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã S. Có mặt.
  2. Lê Thị Xuân T, sinh ngày 02/09/2002 tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Khu phố M, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Không (bị cáo khai tại phiên tòa: bán hàng online), trình độ văn hóa (học vấn): 11/12, giới tính: Nữ, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam, con ông Lê Văn T2, sinh năm 1970 và bà Trần Thị L, sinh năm 1977, sống chung như vợ chồng với Phú Văn H, sinh năm 1999, tiền án; tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam từ ngày 23/12/2022 đến ngày 18/01/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện S, thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh và cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường H, thị xã Đ. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Phú Văn H: Ông Nguyễn Hương Q – Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh P - Công ty L2; địa chỉ: C M, Phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị Xuân T: Ông Nguyễn Thanh M – Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh P - Công ty L3; địa chỉ: G Đ, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt, nhưng có gửi bài bào chữa cho Tòa án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ đầu năm 2022, Phú Văn H, Lê Thị Xuân T sống chung như vợ chồng tại khu phố M, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên và thống nhất cùng nhau mua ma tuý về bán kiếm lời.

Sáng ngày 21/12/2022, H nói T mua 150 viên ma tuý thuốc lắc, 01 lạng ma tuý khay, T sử dụng tài khoản Telegram “Mẹ Đời” đăng ký bằng số điện thoại 0777.479.xxx của T liên lạc với Nguyễn Anh Đ qua tài khoản Telegram “Lộc Thọ P” của Đ đăng ký bằng số điện thoại 0328.359.xxx mua 150 viên ma tuý thuốc lắc và 01 lạng ma tuý khay, Đ báo giá thuốc lắc 170.000 đồng/01viên và 66.000.000 đồng/01 lạng ma tuý khay, tổng cộng 91.500.000 đồng. Sau khi thống nhất, Đ cho T số tài khoản ngân hàng M2 của Đ để T chuyển tiền. T cho Đ số điện thoại 0328.733.xxx của H và địa chỉ nhận là thành phố T để liên lạc giao nhận ma túy. Lúc 13 giờ 10 phút ngày 21/12/2022, T sử dụng tài khoản ngân hàng B số 59010001130363 của T chuyển 91.500.000 đồng đến số tài khoản ngân hàng M2 của Đ trả tiền mua ma tuý. Khoảng 12 giờ ngày 22/12/2022, H nhận thông báo của nhà xe T4 đến nhận hàng, H nói T gọi taxi chở H đến bến xe T. Khoảng 13 giờ 25 phút cùng ngày, khi H vừa nhận gói hàng từ nhân viên của nhà xe T4 tại Phường H, thành phố T bên trong có 02 bì nilon trong suốt đựng chất tinh thể màu trắng và 01 bì nilon trong suốt đựng 149 viên nén màu cam, hình tam giác thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P bắt quả tang.

Kết quả điều tra xác định từ đầu tháng 8/2022 đến ngày 21/12/2022, Lê Thị Xuân T, Phú Văn H còn có 04 lần mua ma tuý thuốc lắc và ma tuý khay và bán ma túy cho người khác, cụ thể:

  • Lần 01: Đầu tháng 8/2022, trước V, đường H, thành phố T, H gặp mua nửa hộp 5 ma tuý khay và 02 viên ma tuý thuốc lắc giá 2.900.000 đồng của người đàn ông (không xác định).
  • Lần 02: Giữa tháng 11/2022, trước V, đường H, thành phố T, H gặp mua nửa hộp 5 ma tuý khay và 02 viên ma tuý thuốc lắc giá 2.900.000 đồng của người đàn ông trên.
  • Lần 03: Ngày 09/12/2022, T dùng tài khoản Telegram “Mẹ Đ1” liên lạc với Nguyễn Anh Đ qua tài khoản Telegram “Lộc Thọ P” mua 50 viên ma tuý thuốc lắc giá 170.000 đồng/01viên và 8.500.000 đồng ma tuý khay, tổng cộng 17.000.000 đồng, T cho Đ số điện thoại và địa chỉ nhận là thành phố T để liên lạc giao nhận. Lúc 12 giờ 40 phút, ngày 09/12/2022, T sử dụng tài khoản ngân hàng B số 59010001130363 của T chuyển 17.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng M2 của Đ trả tiền mua ma túy, Đ gửi số ma túy trên về thành phố T cho T qua nhà xe T4.
  • Lần 04: Ngày 13/12/2022, H bảo T mua 100 viên ma tuý thuốc lắc và 01 lạng ma tuý khay, T sử dụng tài khoản Telegram “Mẹ Đời” của T liên lạc với Đ qua tài khoản Telegram “Lộc Thọ P” mua 100 viên ma tuý thuốc lắc giá 170.000 đồng/01 viên và 01 lạng ma tuý khay giá 66.000.000 đồng, tổng cộng 83.000.000 đồng, T cho Đ số điện thoại 0328.733.xxx của H và địa chỉ nhận là thành phố T để liên lạc giao nhận. Lúc 15 giờ 19 phút ngày 13/12/2022, T sử dụng tài khoản ngân hàng B số 59010001130363 của T chuyển 83.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng M2 của Đ trả tiền mua ma túy, Đ gửi số ma túy trên về thành phố T cho H qua nhà xe Thuận Thảo.

Sau khi nhận ma tuý, H, T phân lẻ và bán cho người khác 13 lần, với tổng số tiền 50.700.000 đồng, cụ thể:

  1. Bán cho Nguyễn Văn K 04 lần, với số tiền 14.100.000 đồng:
    • + Lần 01: Khoảng 20 giờ ngày đầu tháng 8/2022, K gọi điện cho T mua nửa hộp 5 ma túy khay và 02 viên ma túy thuốc lắc giá 3.600.000 đồng, T nói cho H biết, H điều khiển xe mô tô chở T đến tòa nhà A thuộc khu phố T, Phường G, thành phố T giao ma tuý cho K.
    • + Lần 02: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày giữa tháng 11/2022, K gọi điện cho T mua nửa hộp 5 ma túy khay và 02 viên ma túy thuốc lắc giá 3.600.000 đồng, T nói cho H biết, H bảo T gọi Phú Văn M1 đến quán C ở khu phố F, phường P, thành phố T để nhờ M1 đi giao ma túy, khi H, T gặp M1, H đưa ma tuý cho M1 bảo M1 đến tòa nhà A giao cho K, M1 đi taxi đến toà nhà A gọi điện nói cho H biết, H nói lại cho T, T gọi điện bảo K ra nhận ma túy.
    • + Lần 03: Khoảng 19 giờ ngày đầu tháng 12/2022, K gọi điện cho T mua nửa hộp 5 ma túy khay và 02 viên ma túy thuốc lắc giá 3.600.000 đồng, T nói cho H biết, H bảo T gọi Phú Văn M1 đến quán cà phê Hoa Tường V để nhờ M1 đi giao ma túy, khi H, T gặp M1, H đưa ma tuý cho M1 bảo M1 đến tòa nhà A giao cho K, M1 đi taxi đến Toà nhà A gọi điện nói cho H biết, H nói lại cho T, T gọi điện bảo K ra nhận ma túy.
    • + Lần 04: Khoảng 22 giờ ngày đầu tháng 12/2022, K gọi điện cho T mua nửa hộp 5 ma túy khay và 01 viên ma túy thuốc lắc giá 3.300.000 đồng, T nói cho H biết, H đi taxi đến toà nhà A giao ma tuý cho K, khi đến nơi H gọi điện nói cho T biết, T gọi điện bảo K ra nhận ma túy.
  2. Bán cho Nguyễn Thành L1 04 lần, với số tiền 12.900.000 đồng:
    • + Lần 01: Khoảng 22 giờ, ngày cuối tháng 11/2022, L1 gọi điện cho T mua nửa hộp 5 ma túy khay và 01 viên ma tuý thuốc lắc giá 3.300.000 đồng, T đi taxi đến gần cổng vào Trung đoàn 910 thuộc khu phố U, phường H, thị xã Đ giao cho Luật.
    • + Lần 02: Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 08/12/2022, L1 gọi điện cho T mua nửa hộp 5 ma túy khay và 01 viên ma tuý thuốc lắc giá 3.300.000 đồng, T đi taxi đến gần cổng vào Trung đoàn 910 giao cho Luật.
    • + Lần 03: Khoảng 20 giờ, ngày 09/12/2022, Luật gọi điện cho T mua nửa hộp 5 ma túy khay giá 3.000.000 đồng, T đi taxi đến gần cổng vào Trung đoàn 910 giao cho Luật.
    • + Lần 04: Khoảng 22 giờ, ngày 10/12/2022, Luật gọi điện cho T mua nửa hộp 5 ma túy khay và 01 viên ma tuý thuốc lắc giá 3.300.000 đồng, T đi taxi đến gần cổng vào Trung đoàn 910 giao cho Luật.
  3. Bán cho Đường A1 Công Nhuận 04 lần, với số tiền 20.100.000 đồng:
    • + Lần 01: Khoảng 20 giờ, ngày đầu tháng 12/2022, N1 gọi cho T mua 01 hộp 5 ma túy khay giá 6.000.000 đồng, T nói cho H biết, H đi taxi đến địa chỉ B N, Phường D, thành phố T giao ma tuý cho N1, đến nơi H gọi điện nói cho T biết, T gọi điện bảo N1 ra nhận ma túy.
    • + Lần 02: Khoảng 22 giờ, ngày giữa tháng 12/2022, N1 gọi điện cho T mua 01 hộp 5 ma túy khay và 05 viên ma túy thuốc lắc giá 7.500.000 đồng, T nói cho H biết, H đi taxi đến địa chỉ B N, Phường D, thành phố T giao ma tuý cho N1.
    • + Lần 03: Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 20/12/2022, N1 gọi điện cho T mua 01 hộp 5 ma túy khay giá 6.000.000 đồng, T nói cho H biết, H gọi điện cho Phú Văn M1 đến quán cà phê Hòa Tường V1, khi H, T gặp M1, H đưa ma tuý cho M1 bảo M1 đến địa chỉ B N, Phường D, thành phố T giao cho N1, M1 đi taxi đến địa chỉ trên gọi điện nói cho H biết, H gọi điện cho N1 ra nhận ma túy.
    • + Lần 04: Khoảng 13 giờ ngày 21/12/2022, N1 gọi điện cho T mua 02 viên ma túy thuốc lắc giá 600.000 đồng và 01 cây thuốc lá điện tử giá 250.000 đồng, T nói cho H biết, H điều khiển xe mô tô chở T đến địa chỉ B N, Phường D, thành phố T giao ma tuý và 01 cây thuốc lá điện tử cho N1.
  4. Bán cho người tên T3 (không xác định) 01 lần: Khoảng 21 giờ ngày giữa tháng 12/2022, trước cổng trường Đại học P1, đường H, thành phố T, H bán cho người tên T3 nửa hộp 05 ma tuý khay và 02 viên thuốc lắc giá 3.600.000 đồng.

Kết luận giám định số 484/KL-KTHS ngày 26/12/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh P, kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong 02 bì nilon trong suốt là ma tuý, có tổng khối lượng 99,525g loại Ketamine; 149 viên nén hình tam giác màu cam là ma tuý, có tổng khối lượng 73,746g loại MDMA.

Với nội dung vụ án như trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Phú Văn H, Lê Thị Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt:

1.1 Áp dụng điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Phú Văn H tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 22/12/2022). Phạt bổ sung bị cáo Phú Văn H 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng).

1.2 Áp dụng điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Thị Xuân T 20 (Hai mươi năm) tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian đã tạm giam trước từ ngày 23/12/2022 đến ngày 18/01/2023. Phạt bổ sung bị cáo Lê Thị Xuân T 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về: Tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Anh Đ, Phú Văn M1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; biện pháp tư pháp; xử lý vật chứng; án phí hình sự sơ thẩm và công bố quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xử sơ thẩm:

Ngày 12/01/2024, bị cáo Phú Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; ngày 15/01/2024, bị cáo Lê Thị Xuân T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt; Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phú Văn H, Lê Thị Xuân T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đối với các bị cáo; Luật sư bào chữa cho bị cáo Phú Văn H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại hành vi và mức độ phạm tội của bị cáo để cho bị cáo được hưởng hình phạt tù có thời hạn. Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Thị Xuân T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức độ phạm tội của bị cáo T với vai trò đồng phạm, áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm t, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lê Thị Xuân T.

Sau khi nghe:

Bị cáo trình bày nội dung kháng cáo; quan điểm của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án; lời bào chữa của Luật sư bào chữa cho các bị cáo và tranh luận tại phiên tòa. Sau khi thảo luận và nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm thì có cơ sở để kết luận: Ngày 22/12/2022, tại khu vực bến xe T (Phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên) đã bắt quả tang Phú Văn H đang nhận ma túy mua của Nguyễn Anh Đ và thu giữ: 73,746 gam ma túy loại MDMA và 99,525 gam ma túy loại Ketamine. Qua điều tra xác định: Khoảng thời gian từ tháng 8/2022 đến ngày 22/12/2022, tại thành phố T và thị xã Đ, tỉnh Phú Yên, Phú Văn H và Lê Thị Xuân T đã có hành vi thống nhất 03 lần mua ma túy loại MDMA và ma túy loại Ketamine của Nguyễn Anh Đ; 02 lần mua ma túy của một người khác (không xác định được danh tính) về phân lẻ để bán cho Nguyễn Văn K, Nguyễn Thành L1, Đường A và một người tên T3, tổng cộng 13 lần, thu số tiền 50.700.000 đồng; Phú Văn M1 03 lần đi giao ma túy giúp cho H, T thu số tiền 13.200.000 đồng. Với hành vi như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HSST ngày 09/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã tuyên bố các bị cáo bị cáo: Phú Văn H, Lê Thị Xuân T, Nguyễn Anh Đ và Phú Văn M1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Phú Văn H, Lê Thị Xuân T thì thấy:

[2.1]. Đối với bị cáo Phú Văn H: Bị cáo H bị bắt quat tang khi mua trái phép 73,746g ma túy loại MDMA và 99,525g ma túy loại Ketamine của Nguyễn Anh Đ. Như vậy, khi bị bắt quả tang bị cáo H đã mua bán 02 chất ma túy, khối lượng là 172,971gam. Hành vi phạm tội của bị cáo bị truy tố và xét xử theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Ngoài ra, từ tháng 8/2022 đến ngày 22/12/2022, bị cáo H thống nhất với bị cáo T 02 lần mua ma túy thuốc lắc loại MDMA và ma túy loại Ketamine của Nguyễn Anh Đ và 02 lần mua ma túy của một người (không xác định được nhân thân, lai lịch) về phân lẻ bán cho Nguyễn Văn K, Nguyễn Thành L1, Đường A và người tên T3 tổng cộng 13 lần, thu số tiền 50.700.000 đồng, do không xác định được khối lượng ma túy nên các lần mua bán ma túy này của bị cáo H thuộc trường hợp phạm tội từ 02 lần trở lên, bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, vai trò của bị cáo và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo tù chung thân là mức án giữa khung của tội mà bị cáo bị bị truy tố và xét xử là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. Kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không có căn cứ để chấp nhận.

[2.2]. Đối với bị cáo Lê Thị Xuân T: Bị cáo T thống nhất với bị cáo H mua trái phép 73,746g ma túy loại MDMA và 99,525g ma túy loại Ketamine của Nguyễn Anh Đ thì bị bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo cũng bị truy tố và xét xử theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Ngoài ra, từ tháng 8/2022 đến ngày 22/12/2022, bị cáo T thống nhất với bị cáo H 02 lần mua ma túy thuốc lắc loại MDMA và ma túy loại Ketamine của Nguyễn Anh Đ và 02 lần mua ma túy của một người (không xác định được nhân thân, lai lịch) về phân lẻ bán cho Nguyễn Văn K, Nguyễn Thành L1, Đường A và người tên T3 tổng cộng 13 lần, thu số tiền 50.700.000 đồng, do không xác định được khối lượng ma túy nên các lần mua bán ma túy này của bị cáo T thuộc trường hợp phạm tội từ 02 lần trở lên, bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo T không thành khẩn khai báo nhưng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Bản án sơ thẩm nhận định: “Bị cáo T phạm tội do bị bị cáo H rủ rê nên tính nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo T gây ra thấp hơn bị cáo H nên mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo T thấp hơn mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo H. Do đó, áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo T. Xét bị cáo có nhân thân tốt, là phụ nữ, tuổi đời còn trẻ, hoàn cảnh khó khăn, hiện bị cáo T sức khỏe kém do bị mắc nhiều bệnh mãn tính: Nhiễm trùng đường tiểu; TD bàng quang thần kinh (BL 1321); bị thiếu canxi, thận bị ứ nước nặng, viêm thực quản, không ăn được, ăn vào không tiêu hóa được hoặc nôn ra ngoài, không tự đi tiểu được mà phải dùng dụng cụ y tế để thông tiểu, dẫn đến viên bàng quang dễ nhiễm trùng, trong 01 ngày thường lên cơn co giật ít nhất 02 lần trở lên (BL 1334); bệnh bứu thần kinh, khó thở, mệt mỏi, đau bụng và vùng chậu, rối loạn chức năng gan trong bệnh phân loại nơi khác, hạ kali (BL 1400); khả năng thoát vị tủy màng tủy (Kết quả chụp cộng hưởng từ MRI của Khoa chuẩn đoán hình ảnh – Bệnh viện C1 ngày 03/01/2024); Bàng quang thần kinh mất trương lực (Phiếu chỉ định siêu âm ngày 07/8/2023 của Bệnh viện B1 – Sở Y) nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự để lượng hình đối với bị cáo cho phù hợp” để xử phạt bị cáo T 20 năm tù là hình phạt đầu khung của tội mà bị cáo bị truy tố và xét xử là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, vai trò của bị cáo trong vụ án. Sau khi xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo nhận tội, xin giảm nhẹ hình phạt, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P có Công văn đề nghị xem xét tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhưng những tình tiết này cũng không làm thay đổi hình phạt do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

[3]. Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Phú Văn H, Lê Thị Xuân T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

[4]. Các Quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Anh Đ, Phú Văn M1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và các Quyết định về: Hình phạt bổ sung; Xử lý vật chứng; Án phí sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật và được thực hiện theo Quyết định tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2023/HSST ngày 09/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

Từ những nhận định trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Phú Văn H, Lê Thị Xuân T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HSST ngày 09/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

  1. Áp dụng điểm h khoản 4 khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2915.

    Xử phạt bị cáo Phú Văn H tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2022. Phạt bổ sung bị cáo Phú Văn H 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đông).

  2. Áp dụng điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

    Xử phạt bị cáo Lê Thị Xuân T 20 (Hai mươi năm) tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian từ ngày 23/12/2022 đến ngày 18/01/2023. Phạt bổ sung bị cáo Lê Thị Xuân T 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).

  3. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Phú Văn H, Lê Thị Xuân T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các Quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Anh Đ, Phú Văn M1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và các Quyết định về: Hình phạt bổ sung; Xử lý vật chứng; Án phí sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật và được thực hiện theo Quyết định tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HSST ngày 09/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - Công an tỉnh Phú Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Phú Yên;
  • - Trại tạm giam tỉnh Phú Yên;
  • - Bị cáo (TTG giao cho bị cáo);
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - UBND phường Phú Đông, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên và UBND phường Hòa Hiệp Bắc, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên (thay cho việc thông báo bằng văn bản);
  • - Lưu HSVA, PHCTP, LT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Văn Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2024/HS-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 152/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Phú Văn H, Lê Thị Xuân T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HSST ngày 09/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên. 1. Áp dụng điểm h khoản 4 khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2915. Xử phạt bị cáo Phú Văn H tù chung thân về tội“Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2022. Phạt bổ sung bị cáo Phú Văn H 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). 2. Áp dụng điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lê Thị Xuân T 20 (Hai mươi năm) tù về tội“Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian từ ngày 23/12/2022 đến ngày 18/01/2023. Phạt bổ sung bị cáo Lê Thị Xuân T 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger