Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 152/2024/DS-ST

Ngày: 27/9/2024

V/v: “Tranh chấp tài sản thừa

kế, hủy GCNQSDĐ”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Viện

Ông Nguyễn Quốc Nông

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Minh - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chuỳ – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 105/2024/TLST-DS ngày 25/6/2024 về việc “Tranh chấp tài sản thừa kế, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-DS ngày 06/9/2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Cụ Nguyễn Thị X, sinh năm 1922, vắng mặt;

    Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.

    Người đại diện theo uỷ quyền của cụ Nguyễn Thị X:

    • Ông Trương Quốc V, sinh năm 1960, có mặt;

      Địa chỉ: SN A phố L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

    • Ông Nguyễn Quang H, sinh năm 1953, có mặt;

      Địa chỉ: Số E đường Q, phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  2. Bị đơn: Bà Lê Thị M, sinh năm 1962, có mặt;

    Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh T.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Bà Lê Thị V1, sinh năm 1953, vắng mặt;

      Địa chỉ: Số E Đường N, Lê Thánh T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

    • Bà Lê Thị N, sinh năm 1956, vắng mặt;

      Địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

      Người đại diện theo ủy quyền của bà V1, bà N: Ông Nguyễn Quang H, sinh năm 1953, có mặt.

    • Bà Lê Thị H1, sinh năm 1959, có mặt;

      Địa chỉ: Số E đường Q, phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

    • Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa;

      Địa chỉ: Khu C, thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Trọng T1 - Chủ tịch, vắng mặt.

    • Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa;

      Địa chỉ: Xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thanh H2 - Chủ tịch, vắng mặt

    • Chị Lại Như H3, sinh năm 1989, vắng mặt;

      Địa chỉ: Xóm T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.

      Người đại diện theo ủy quyền của chị H3: bà Lê Thị M, có mặt.

    • Anh Lại Văn T2, sinh năm 1991, vắng mặt.

      Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 24/6/2024, bản tự khai và quá trình tố tụng nguyên đơn là bà Nguyễn Thị X trình bày:

Vợ chồng cụ Lê Hữu SNguyễn Thị X được sử dụng đất thổ cư của bố mẹ chồng để lại, có diện tích 289m², tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa. Con gái là Lê Thị M và chồng là ông Lại Văn T3 chung sống cùng cụ S và cụ X. Cụ Lê Hữu S chết năm 2022, không để lại di chúc.

Cụ Lê Hữu SNguyễn Thị X có năm người con, gồm: ông Lê Hữu S1, sinh năm 1949, Liệt sỹ, không có vợ, con; bà Lê Thị V1; bà Lê Thị N; bà Lê Thị H1; bà Lê Thị M.

Cụ S, cụ X không biết chữ, mọi thủ tục về sử dụng đất đều nhờ vợ chồng bà Lê Thị M làm giúp. Do đó, vợ chồng bà M đã tự ý kê khai đăng ký và đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bố mẹ dưới tên ông T3 và bà M, không hỏi ý kiến và không được sự đồng ý của các cụ. Sau khi cụ S chết, cụ X họp gia đình để bàn việc chia đất cho các con, thì mới biết đất của các cụ đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận số CA341152, số vào sổ CH00455 ngày 05-6-2015, thửa số 230 tờ bản đồ 09, địa chỉ Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; diện tích 289m², mục đích sử dụng đất ở nông thôn; Chủ sử dụng là ông Lại Văn T3 và bà Lê Thị M. Hiện nay cụ X đang ở với bà Lê Thị H1, đất của các cụ do bà Lê Thị M quản lý và sử dụng nhưng không đồng ý trả lại đất cho cụ X, không đồng ý chia thừa kế phần đất của cụ S. Cụ X đã khiếu nại về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với đất của các cụ không đúng đối tượng, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ trả lời như sau: Ông Lại Văn T3 và bà Lê Thị M sinh sống cùng cụ Nguyễn Thị X trên thửa đất số 66 tờ bản đồ số 4 Bản đồ địa chính năm 1990, từ năm 1970 đến nay. Thời kỳ năm 1989-1990, thửa đất đăng ký trong Sổ mục kê là đất ở, không có tên chủ sử dụng. Giai đoạn năm 1994-1995, bà M và ông T3 được Ủy ban nhân dân xã Đ trình danh sách và được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2015, bà M và ông T3 báo mất và được cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA341152, số vào sổ CH00455 ngày 05-6-2015. Cụ X khẳng định không tặng cho, không đồng ý cho vợ chồng bà Lê Thị M đứng tên chủ hộ sử dụng đất. Cụ S khi chết không để lại di chúc chia di sản quyền sử dụng đất cho ai. Việc vợ chồng bà M, ông T3 kê khai đăng ký, đề nghị và được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận đối với đất của các cụ, không chia thừa kế là trái quy định, ảnh hưởng đến quyền lợi của cụ X cũng như của các con khác trong gia đình.

Vì vậy, cụ X đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa giải quyết như sau:

- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA341152, số vào sổ CH00455 ngày 05-6-2015, thửa số 230, tờ bản đồ 09, địa chỉ Thôn A, xã Đ do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho cho chủ sử dụng là Lại Văn T3Lê Thị M.

- Chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật đối với phần tài sản của cụ Lê Hữu S là diện tích đất ở 144,5m² trong khối tài sản chung của vợ chồng 289m² đất ở tại thửa số 230, tờ bản đồ 09, địa chỉ Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.

* Bị đơn là bà Lê Thị M trình bày:

Bà đồng ý về tên bố mẹ bà, họ tên anh chị em ruột, nguồn gốc đất của cụ S và cụ X tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa như nguyên đơn trình bày trên là đúng.

Bà và chồng là ông Lại Văn T3 chung sống cùng các cụ Lê Hữu SNguyên Thị X1. Ông T3 chết năm 2020. Bà và ông T3 có 02 người con là Lại Thị H4Lại Văn T2.

Bố mẹ bà không biết chữ, mọi thủ tục về sử dụng đất đều nhờ vợ chồng bà làm giúp. Là hộ cùng chung sống với nhau, bà suy nghĩ rằng có thể đại diện làm thủ tục kê khai và đứng tên chủ hộ sử dụng đất. Do đó, vợ chồng bà đã tự ý kê khai đăng ký và đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bố mẹ, không hỏi ý kiến và không được sự đồng ý của bố mẹ. Sau khi bố bà là Lê Hữu S chết, cụ X1 họp gia đình để bàn việc chia đất cho các con, thì mới biết đất của các cụ đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà. Đất của các cụ do bà đang quản lý, sử dụng.

Trước đây bà không đồng ý trả lại đất cho mẹ bà, không đồng ý chia thừa kế phần đất của bố là cụ S để lại. Nay cụ Nguyễn Thị X khởi kiện vụ án chia thừa kế, bà cũng đồng ý. Tuy nhiên, bà đề nghị Tòa án giải quyết đảm bảo cho bà có được diện tích đất đủ để xây dựng nhà ở, vì hiện nay bà không có đất ở nơi nào khác.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

  1. Bà Lê Thị V1, bà Lê Thị N, bà Lê Thị H1 trình bày:
  2. Các bà thống nhất với họ tên của bố mẹ các bà, số anh chị em ruột và tài sản của cụ S và cụ X như nguyên đơn trình bày là đúng. Nay cụ X yêu cầu chia tài sản thừa kế của cụ S thì quan điểm của các bà là để lại phần di sản này cho bà Nguyễn Thị X giáp hộ ông K diện tích 150m², còn để lại cho bà Lê Thị M phần đất giáp nhà bà N1 diện tích 139m². Các bà đề nghị hủy GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA341152 do UBND huyện Đ cấp ngày 5/6/2015 cho ông Lại Văn T3 và bà Lê Thị M.

    Các bà không yêu cầu bà M phải trả cho các bà khoản tiền tương ứng với phần di sản thừa kế của cụ Lê Hữu S để lại.

  3. Chị Lại Như H3 trình bày:
  4. Chị thống nhất với ý kiến của bà Lê Thị M. Do điều kiện nên chị không tham dự các buổi làm việc tại Tòa án nên chị xin vắng mặt. Chị uỷ quyền cho mẹ chị là bà Lê Thị M tham gia tố tụng tại Tòa án và mọi quyết định của bà M là quyết định của chị.

  5. Anh Lại Văn T2 đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt và không có ý kiến gì về việc tranh chấp của các bên đương sự.
  6. Ủy ban nhân dân huyện Đ và UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa:
  7. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt và không có ý kiến gì về việc tranh chấp của các bên đương sự.

* Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 06/8/2024: tổng diện tích đất thực tế tại thửa đất số 230, tờ bản đồ số 09, có diện tích là 287,9m²đất; địa chỉ thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.

* Kết quả định giá ngày 07 tháng 8 năm 2024, thể hiện:

  1. Về đất:
  2. - Đất ở: 287,9m² x 7.800.000đ/m² = 2.245.620.000 đồng.

  3. Về vật kiến trúc trên đất:
    1. Tài sản của cụ Nguyễn Thị X:
      • Nhà cấp 4, mái lợp proximang, xây dựng năm 2010, diện tích 46,20m² trị giá: 75.393.688 đồng.
      • 01 bán bình tôn trước nhà 36,3m² làm năm 2015, trị giá 7.686.525 đồng.
      • 01 sân xi măng 92,30m² xây dựng năm 2010, trị giá 2.049.060 đồng.
      • 02 trụ cổng 0,83m², xây năm 2020, trị giá 760.280 đồng.
      • 02 cổng sắt 4,62m², xây năm 2020, trị giá 1.696.464 đồng.
      • Tường rào 25,83m², xây năm 2020, trị giá 3.802.176 đồng.
    2. Tài sản của bà Lê Thị M:
      • Nhà cấp 4 mái tôn, xây dựng năm 1990, diện tích 53,90m²trị giá 49.480.200 đồng.
      • Nhà bếp cấp 4 mái ngói, diện tích 11,30m² trị giá 2.967.380 đồng.
      • Nhà kho mái fibro, diện tích 14,70m² trị giá 3.860.220 đồng.
      • Nhà tắm + nhà vệ sinh, diện tích 9,00m²trị giá 9.857.500 đồng.
      • Bán bình tôn khu nhà tắm diện tích 14,50m² trị giá 2.767.325 đồng.

    Tổng giá trị công trình xây dựng trên đất là 160.322.818 đồng.

Tổng đất và tài sản trên đất là 2.405.942.818 đồng.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Các đương sự có mặt thống nhất: Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA341152, số vào sổ CH00455 ngày 05-6-2015, thửa số 230 tờ bản đồ 09, địa chỉ Thôn A, xã Đ do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho cho chủ sử dụng là Lại Văn T3Lê Thị M; cụ S tự nguyện cho bà Lê Thị H1 diện tích đất là phần tài sản của cụ. Những người thuộc diện thừa kế là cụ X, bà V1, bà N thống nhất nhường kỷ phần thừa kế được hưởng của cụ S cho bà Lê Thị H1 và bà Lê Thị M, chia cho bà M diện tích 100m², dài 16,88m, rộng 5,92m (phần đất giáp nhà bà N1), phần tài sản còn lại 43,95m² chia cho bà H1, tổng diện tích đất bà Lê Thị H1 được cho và được chia thừa kế là 187,90m². Bà M, bà H1 không phải có phải có trách nhiệm trả tiền chênh lệch chia tài sản thừa kế cho cụ X, bà V1, bà N. Phần công trình, tài sản trên đất của ai thì người ấy được sở hữu, các bên không phải bồi thường tài sản trên đất trong trường hợp bị phá dỡ sau khi chia thừa kế.

- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị X về hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA341152 do UBND huyện Đ cấp ngày 5/6/2015 cho ông Lại Văn T3 và bà Lê Thị M. Chia cho bà Lê Thị M diện tích 100m², dài 16,88m, rộng 5,92m (phần đất giáp nhà bà N1). Công nhận sự tự nguyện của cụ Nguyễn Thị X cho toàn bộ phần tài sản của mình và phần được hưởng thừa kế của cụ S cho bà Lê Thị H1. Chia phần đất còn lại 187,9m² cho bà Lê Thị H1. Bà M, bà H1 không phải có phải có trách nhiệm trả tiền chênh lệch tài sản đối với cụ X, bà V1, bà N.

Về án phí các đương sự là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đánh giá khách quan toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND huyện Đ, UBND xã Đ, huyện Đ, anh Lại Văn T2 đã được tống đạt hợp lệ hai lần đến phiên tòa nhưng vắng mặt; căn cứ khoản 2 Điều 227 của BLTTDS HĐXX xử vắng mặt các đương sự trên.

[1.2] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu: Chia tài sản thừa kế của cụ Lê Hữu S tại thửa số 230, tờ bản đồ 09, địa chỉ Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA341152, số vào sổ CH00455 ngày 05-6-2015, do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Lại Văn T3 và bà Lê Thị M.Nên Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa thụ lý, giải quyết theo quy định tại Điều 34 BLTTDS.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn:

[2.1] Nguồn gốc đất: Quá trình giải quyết vụ án, tất cả các đương sự đều thừa nhận thửa số 230, tờ bản đồ 09, địa chỉ Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; Diện tích theo GCNQSDĐ là 289m², diện tích đo thực tế là 287,9m²mục đích sử dụng đất ở nông thôn, có nguồn gốc là của vợ chồng cụ Lê Hữu SNguyễn Thị X. Nên xác định tài sản thừa kế của cụ S ½ thửa đất số 230, tờ bản đồ 09.

[2.2] Về hủy GCNQSDĐ:

Ngày 05/6/2015, Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Thanh Hoá cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA341152, số vào sổ CH00455 cho ông Lại Văn T3 và bà Lê Thị M tại thửa số 230, tờ bản đồ 09, địa chỉ Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa. Tuy nhiên, không có thủ tục giấy tờ của cụ S và cụ X đồng ý cho ông T3, bà M thửa đất trên. Bà M thừa nhận vợ chồng bà đã tự ý kê khai đăng ký và đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bố mẹ, không hỏi ý kiến và không được sự đồng ý của bố mẹ. Bà Lê Thị M cũng đồng ý huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên. Do đó, việc cấp GCNQSDĐ cho ông T3, bà M là không đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận đề nghị của nguyên đơn hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA341152, số vào sổ CH00455 do Ủy ban nhân dân huyện Đ mang tên ông Lại Văn T3 và bà Lê Thị M ngày 05/6/2015, tại thửa số 230, tờ bản đồ 09, địa chỉ Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; căn cứ Điều 34 BLTTDS.

[2.3] Thời hiệu khởi kiện thừa kế: Cụ Lê Hữu S chết năm 2022 (BL 28), cụ S chết không để lại di chúc. Ngày 24/6/2024, Tòa án nhận được Đơn khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ S. Theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 quy định “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản...”. Nên thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản thừa kế đối với cụ S là còn thời hiệu khởi kiện.

[2.4] Về diện thừa kế và kỷ phần: Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Lê Hữu S là: cụ Nguyễn Thị X, bà Lê Thị V1, bà Lê Thị N, bà Lê Thị H1 và bà Lê Thị M; nên diện thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ S là 05 kỷ phần; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS. Tổng giá trị toàn bộ khu đất là 287,90 m² x 7.800.000 đồng/m² = 2.245.620.000 đồng. Theo đó, tài sản thừa kế của cụ S là 287,90 m² /2 = 143,95m² trị giá 1.122.281.000 đồng. Tài sản của cụ X là 143,95m² trị giá 1.122.281.000 đồng.

Tài sản thừa kế của cụ S được chia thành 5 kỷ phần gồm: Cụ X, bà V1, bà N, bà H1, bà M; mỗi người được 143,95m²/5 = 28,79m² trị giá 224.562.000 đồng. Do vậy, cụ X được chia 143,95m² + 28,79m²= 172,74m². Cụ X tự nguyện cho bà Lê Thị H1 toàn bộ diện tích đất 172,74m².

Công nhận sự tự nguyện của người đại diện theo uỷ quyền của cụ X, bà M, bà H1 và người đại diện theo uỷ quyền của bà V1, bà N đều thống nhất huỷ GCNQSDĐ; chia cho bà Lê Thị M diện tích 100m², dài 16,88m, rộng 5,92m (phần đất giáp nhà bà N1). Chia phần đất còn lại 187,9m² cho bà Lê Thị H1. Bà M và bà H1 không phải có trách nhiệm gì đối với cụ X, bà V1, bà N. Các công trình, tài sản trên đất không yêu cầu Tòa án giải quyết, thống nhất không yêu cầu các bên đền bù tài sản trên đất trong trường hợp bị phá dỡ sau khi chia thừa kế. Xét thấy, việc các đương sự có mặt tại phiên toà đã thỏa thuận là phù hợp nên công nhận. Cụ thể, chia cho cho bà Lê Thị M 100m² trị giá 780.000.000 đồng; chia cho bà Lê Thị H1 187,90m² trị giá 1.465.620.000 đồng.

[2.5] Về chia hiện vật:

  • Chia cho bà Lê Thị M diện tích 100m² đất ở; có tứ cận như sau:
    • + Phía Bắc giáp hộ bà N1 dài 16,88m;
    • + Phía Nam giáp đất chia cho bà H1 dài 17,03m;
    • + Phía Đông giáp hộ ông H5 dài 5,92m;
    • + Phía Tây giáp đường thôn dài 5,92m.
  • Chia cho bà bà Lê Thị H1 diện tích 187,90m²đất ở có tứ cận như sau:
    • + Phía Bắc giáp đất chia cho bà M dài 17,03m;
    • + Phía Nam giáp hộ ông K dài 11,93m; 0,70m; 5,23m;
    • + Phía Đông giáp hộ ông H5 dài 9,96m;
    • + Phía Tây giáp đường thôn dài 8,43m; 3,08m.

[3] Chi phí thẩm định, định giá: Cụ Nguyễn Thị X đã nộp chi phí thẩm định, định giá. Cụ X tự nguyện chịu toàn bộ khoản tiền chi phí thẩm định, định giá nên công nhận.

[4] Về án phí: Bà H1 và bà M phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với phần tài sản mà họ được chia. Nhưng do các bà là người cao tuổi nên không phải chịu án phí DSST. Căn cứ Khoản 1 Điều 147 BLTTDS; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điểm a, b khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 227; Điều 34; khoản 2 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 100; Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai 2013. Điều 623; Điều 649; Điều 651; Điều 653 Bộ luật dân sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
    • Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA341152, số vào sổ CH00455 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Lại Văn T3 và bà Lê Thị M ngày 05/6/2015, tại thửa số 230, tờ bản đồ 09, địa chỉ Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.
    • Xác nhận toàn bộ thửa đất số 230, tờ bản đồ 09, địa chỉ Thôn A (nay là thôn Đ), xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; diện tích đo thực tế là 287,9m², mục đích sử dụng đất ở nông thôn là tài sản chung của vợ chồng cụ Lê Hữu S và cụ Nguyễn Thị X. Theo đó, cụ Lê Hữu S, cụ Nguyễn Thị X mỗi người được 143,95m² đất. (Do bà M đang quản lý).
    • Công nhận sự tự nguyện của cụ Nguyễn Thị X tặng cho bà Lê Thị H1 diện tích đất 143,95m².
    • Chấp nhận sự tự nguyện của những người được hưởng thừa kế về tặng cho và chia tài sản thừa kế của cụ S (diện tích đất 143,95m²) cho bà M và bà H1.

    Việc giao tài sản tặng cho và chia thừa kế cụ thể như sau (Do bà M đang quản lý): (Có sơ đồ kèm theo).

    • + Chia cho bà Lê Thị M diện tích 100m² đất ở trị giá 780.000.000 đồng, có tứ cận như sau:
      • Phía Bắc giáp hộ bà N1 dài 16,88m;
      • Phía Nam giáp đất chia cho bà H1 dài 17,03m;
      • Phía Đông giáp hộ ông H5 dài 5,92m;
      • Phía Tây giáp đường thôn dài 5,92m.
    • + Giao đất của cụ Nguyễn Thị X và chia cho bà Lê Thị H1 diện tích 187,90m² đất ở trị giá 1.465.620.000 đồng, có tứ cận như sau:
      • Phía Bắc giáp đất chia cho bà M dài 17,03m;
      • Phía Nam giáp hộ ông K dài 11,93m; 0,70m; 5,23m;
      • Phía Đông giáp hộ ông H5 dài 9,96m;
      • Phía Tây giáp đường thôn dài 8,43m; 3,08m.

    Phần công trình, tài sản trên đất của ai thì người ấy được sở hữu. Các đương sự không phải trả tiền chênh lệch chia tài sản thừa kế cho nhau, không phải bồi thường tài sản trên đất trong trường hợp bị phá dỡ sau khi chia thừa kế.

    Lê Thị H1, bà Lê Thị M có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.

  2. Về chi phí thẩm định và định giá: Công nhận bà Nguyễn Thị X tự nguyện chịu chi phí thẩm định, định giá.
  3. Về án phí: Bà Lê Thị H1, bà Lê Thị M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P9);
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ; Lưu Tòa DS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thủy

10

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Mai Thị Viện

Nguyễn Quốc Nông

Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp tài sản thừa kế, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 152/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản thừa kế, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp tài sản thừa kế, huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger