TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1514/2025/HNGĐ-ST Ngày: 11/6/2025 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Hương Thủy;
- Ông Phạm Văn Phước.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 3028/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4825/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Ngọc D, sinh năm: 1980 (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ thường trú: Số G đường L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1986 (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ thường trú: Số C, Đường A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ cư trú: Nhà không số (kế bên nhà số H), Đường H, Khu phố F, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn – bà Võ Thị Ngọc D trình bày:
Tôi và ông Nguyễn Văn Q quen biết, tìm hiểu nhau và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 66/2016 ngày 05/10/2016. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.
Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng khoảng 02 năm gần đây giữa hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do ông Q không còn quan tâm, lo lắng cho gia đình và bắt đầu ghen tuông vô cớ dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên cãi vã làm ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình và con cái. Hai vợ chồng đã nhiều lần tự hòa giải, bà D cũng cố gắng khuyên răn và tha thứ cho ông Q để hàn gắn tình cảm nhưng không được. Giữa hai vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm sống, xảy ra nhiều xung đột dẫn đến đời sống chung không hạnh phúc. Tình trạng hôn nhân của hai vợ chồng ngày một trầm trọng, bà D và ông Q đã sống ly thân suốt một thời gian dài. Nay bà D xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể hàn gắn tình cảm được với ông Q nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Q.
Về con chung: Bà Võ Thị Ngọc D và ông Nguyễn Văn Q có 01 (một) con chung tên Nguyễn Văn T (nam), sinh ngày 25/01/2017. Bà D yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Văn T và không yêu cầu ông Nguyễn Văn Q cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có nợ chung.
Bị đơn - ông Nguyễn Văn Q vắng mặt nhưng có lời khai tại Tòa:
Ông và bà Võ Thị Ngọc D tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 66/2016 ngày 05/10/2016. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng từ cuối năm 2024 vợ chồng mâu thuẫn và sống ly thân đến nay. Nay bà D làm đơn xin ly hôn ông đồng ý vì nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn.
Về con chung: Ông Nguyễn Văn Q và bà Võ Thị Ngọc D có 01 (một) con chung tên Nguyễn Văn T (nam), sinh ngày 25/01/2017. Hiện nay con chung đang sống cùng mẹ nên đồng ý giao con cho cô D trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Q không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn – bà Võ Thị Ngọc D và bị đơn – ông Nguyễn Văn Q có đơn xin vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự vắng mặt nhưng có lời khai tại Tòa. Cả hai cùng trình bày cuộc sống chung không hạnh phúc. Viện kiểm sát nhân dân thành phố T xét thấy mâu thuẫn giữa bà D và ông Q đã kéo dài, tình cảm không thể hàn gắn. Vì vậy, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà D được ly hôn với ông Q.
Về nuôi con chung: Bà Võ Thị Ngọc D và ông Nguyễn Văn Q có 01 (một) con chung tên Nguyễn Văn T (nam), sinh ngày 25/01/2017. Bà D là người đang trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con. Ông Q đồng ý giao con cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà D không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Cả hai không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đề nghị, Hội đồng xét xử ghi nhận các đương sự không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết :
Bà Võ Thị Ngọc D xin ly hôn ông Nguyễn Văn Q, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Ông Nguyễn Văn Q cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Các đương sự đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bà D và ông Q.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn như sau:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Võ Thị Ngọc D và ông Võ Văn Q1 tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 66/2016 ngày 05/10/2016. Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân của bà D, ông Q1 được công nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
Tại phiên tòa hôm nay bà D có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng tại bản tự khai và các biên bản hòa giải, bà D xác định cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc cho cả hai, mục đích hôn nhân vì vậy cũng không đạt được, bà và ông Q1 có nhiều khác biệt trong quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, xô xát. Do đó, bà D giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Q1.
Ông Q1 có đơn xin xét xử vắng mặt và có lời khai tại Tòa xác nhận hôn nhân giữa ông và bà D không có hạnh phúc nên ông đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà D.
Hội đồng xét xử xét thấy: Cuộc sống hôn nhân giữa bà D và ông Q1 phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Tại các bản tự khai của bà D và ông Q1 cũng thừa nhận cuộc sống chung của cả hai không hạnh phúc. Trong quá trình giải quyết hồ sơ vụ án, Tòa án đã mời các bên đến Tòa để tiến hành hòa giải nhưng ông Q1 không đồng ý gặp mặt bà D và xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, điều này thể hiện ông Q1 không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này nữa. Xét thấy hôn nhân chỉ đạt được mục đích khi hai vợ chồng cùng vun đắp, chăm sóc lẫn nhau để xây dựng một gia đình hạnh phúc. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị Ngọc D theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
[3.2] Về con chung:
Căn cứ Trích lục khai sinh số 67/TLKS-BS ngày 06 tháng 3 năm 2017 do Ủy ban nhân dân phường L, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp có cơ sở xác định trẻ Nguyễn Văn T (nam), sinh ngày 25/01/2017 là con chung của bà Võ Thị Ngọc D và ông Nguyễn Văn Q.
Bà D có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Văn T và ông Q đồng ý giao con chung cho bà D nuôi dưỡng. Để đảm bảo điều kiện phát triển về thể chất, tinh thần cũng như không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của trẻ, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao con chung Nguyễn Văn T (nam), sinh ngày 25/01/2017 cho bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung: bà D không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà D không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung.
[3] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về nợ chung: Các đương sự khai không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Bà D chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ông Q không phải chịu án phí.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, Điều 228, Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 và các Điều 51, 56, 57, 58, 71, 72, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn - bà Võ Thị Ngọc D:
Về hôn nhân: Bà Võ Thị Ngọc D được ly hôn với ông Nguyễn Văn Văn Q (Giấy chứng nhận kết hôn số 66/2016 ngày 05/10/2016 tại Ủy ban nhân dân phường L, Quận I (nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh chấm dứt hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật)
Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Văn T (nam), sinh ngày 25/01/2017 cho bà Võ Thị Ngọc D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của Võ Thị Ngọc D không yêu cầu ông Nguyễn Văn Q cấp dưỡng nuôi con.
Các bên tự thực hiện hoặc thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Ông Q được quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con, người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi.
Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo qui định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
2. Về án phí: bà Võ Thị Ngọc D phải chịu án phí hôn nhân và đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà D đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0068267 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức lập ngày 25/12/2024. Bà D đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Võ Thị Ngọc D và ông Võ Văn Q1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014)./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Nga |
Bản án số 1514/2025/HNGĐ-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 1514/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu ly hôn
