Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Bản án số: 151/2024/HS-PT

Ngày: 31/8/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Phan Vĩnh Chuyển

Các Thẩm phán:Ông Bùi Trọng Danh

Ông Trần Hữu Vinh

Thư ký phiên toà: Ông Phan Hồng Lĩnh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Mỹ Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 150/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Lê Thị Kim T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo kháng cáo: LÊ THỊ KIM T, sinh ngày 28 tháng 10 năm 1995 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: Tổ C, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T1 (chết) và bà Lê Thị H (còn sống), Không có chồng, nhưng có 01(một) con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền tiêu xài cá nhân, Lê Thị Kim T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn quận C và quận H, thành phố Đà Nẵng cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 16 giờ ngày 17/01/2024, T điều khiển xe mô tô hiệu Atila, màu trắng, không gắn biển kiểm soát đến cửa hàng G ở địa chỉ: Số B đường T, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng. Khi T đi vào cửa hàng thì phát hiện điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A34 5G, màu đen trị giá 4.213.000 đồng (Bốn triệu, hai trăm mươi ba ngàn đồng) của ông Tăng Thanh C để trên bàn của cửa hàng nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Thoa quan sát xung quanh không có người trông coi nên lén lút lấy điện thoại rồi tẩu thoát. Sau đó, T đem điện thoại trộm cắp được đến một tiệm sửa điện thoại (không nhớ rõ địa chỉ) trên đường T, thành phố Đà Nẵng để bẻ khóa màn hình rồi đem đến tiệm C1 ở địa chỉ: Số A đường K, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng do ông Đàm Đức P quản lý. Tại đây, T xưng tên là M, rồi nói với ông P chiếc điện thoại này mua trả góp nhưng cần tiền nên đem cầm khoảng 10 ngày sẽ chuộc lại. Ông P kiểm tra thì thấy điện thoại không có mật khẩu nên đồng ý cầm với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng). Số tiền cầm cố điện thoại có được T đã tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ hai: Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô hiệu SYM Atila, màu trắng, không gắn biển kiểm soát đến đường Ô, quận C, thành phố Đà Nẵng để tìm kiếm tài sản. Khi đến trước số nhà A đường Ô, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng thì T phát hiện 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Scoopy màu trắng hồng (chưa được cấp biển kiểm soát) trị giá 37.420.000 đồng (Ba mươi bảy triệu, bốn trăm hai mươi ngàn đồng) của bà Phan Thị Thanh V đang để tại đây, không có người trông coi. T chạy xe Attila của mình đến gửi tại một quán cà phê sau Nhà thờ G1 rồi đi bộ đến số nhà A Ông Í lén lút dắt xe Scoopy xuống đường và tẩu thoát. Trên đường đi, T nhờ 01(một) thanh niên chạy xe G2 (chưa rõ lai lịch) giúp T đẩy bộ một đoạn đến ngã tư đường Ô Í - Cách Mạng Tháng Tám. Sau đó, T nhờ 01(một) phụ nữ (không rõ lai lịch) đặt G2. Người thanh niên lái xe G2 (không rõ nhân thân lai lịch) cùng T đẩy xe đến cửa hàng T2 ở địa chỉ: Số A đường P, quận H, thành phố Đà Nẵng để thay ổ khóa. Tại đây, T gặp ông Trần Ngọc V1 (là nhân viên sửa chữa) rồi nói do mình bị mất chìa khóa nên muốn thay ổ khóa mới, ông V1 báo giá 1.700.000 đồng (Một triệu, bảy trăm ngàn đồng) thì T đồng ý để xe lại cửa hàng, rồi T quay lại Nhà thờ giáo xứ G1 để lấy xe SYM A đem về nhà. Đến chiều ngày 18/01/2024, T đến cửa hàng T2 đi xe Honda Scoopy về cất giấu tại nhà của mình ở số C L hứ, quận S, thành phố Đà Nẵng. Đến 20 giờ cùng ngày, hành vi của T bị Công an quận C, thành phố Đà Nẵng phát hiện, thu giữ tang vật chứng gồm: 01 (một) xe môtô hiệu Honda Scoopy, màu trắng hồng (chưa được cấp biển số), số khung: MH1JM0419PK55771, số máy: JMO4E155079; 01 (một) điện thoại di động hiệu S Galaxy A34 5G, màu đen; 01 (một) phiếu sửa chữa xe máy; 01 (một) xe môtô hiệu SYM Attila, màu trắng, không gắn biển số, số khung: 11CDCD010148, số máy: MVUACD010148 của Thoa; 01 (một) áo khoác dài tay, có chữ TOMMY JEANS, màu đen của T; 02 (hai) đĩa CD chứa hình ảnh phạm tội của T.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Kim T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Kim T 01(một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo bản án.

Ngày 28/6/2024, bị cáo Lê Thị Kim T có đơn kháng cáo với nội dung: Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là nặng, xin cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Bị cáo Lê Thị Kim T giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về hoàn cảnh gia đình là mẹ đơn thân đang nuôi con còn nhỏ ăn học và chăm sóc mẹ già yếu ốm đau, để xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo hoặc hình phạt cải tạo không giam giữ, để có điều kiện lo cho cuộc sống gia đình.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Thị Kim T theo đúng thủ tục và trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ.

Về nội dung: Xét Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như về nhân thân bị cáo, qua đó xử phạt bị cáo 01(một) năm 09 (chín) tháng tù là phù hợp. Sau khi xử sơ thẩm, bị cáo có bổ sung tình tiết bồi thường cho ông Đàm Đức P số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) theo quyết định của Bản án, ông P có giấy bãi nại và đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn, tuy đây là tình tiết mới, nhưng tình tiết này cũng không làm thay đổi về mức hình phạt mà cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Thị Kim T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 16 giờ đến 18 giờ ngày 17/01/2024, Lê Thị Kim T đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, lén lút thực hiện hành vi trộm cắp chiếm đoạt của ông Tăng Thanh C 01(một) điện thoại hiệu S A34 5G trị giá 4.213.000 đồng (Bốn triệu, hai trăm mười ba ngàn đồng) và bà Phan Thị Thanh V 01(một) xe mô tô hiệu Honda Scoopy trị giá 37.420.000 đồng (Ba mươi bảy triệu, bốn trăm hai mươi ngàn đồng). Tổng giá trị tài sản Lê Thị Kim T đã chiếm đoạt là 41.633.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu, sáu trăm ba mươi ba ngàn đồng). Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2]. Xét nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Lê Thị Kim T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo tuy thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định của pháp luật, xử phạt bị cáo 01(một) năm 09 (chín) tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy rằng: Sau khi xét xử sơ thẩm, mặc dù Bản án chưa có hiệu lực pháp luật, nhưng bị cáo đã bồi hoàn đủ số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu, năm trăm ngàn đồng) cho nguyên đơn dân sự ông Đàm Đức P (theo quyết định của Bản án), ông P có giấy bãi nại; đồng thời bị cáo bổ sung thêm tài liệu thể hiện mẹ của bị cáo đang điều trị nhiều bệnh, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo hiện là mẹ đơn thân đang chăm sóc mẹ già và nuôi con nhỏ ăn học; bản thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, chưa gây ra hậu quả cho các bị hại (do tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại). Xét đây là các tình tiết mới tại cấp phúc thẩm, đo đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, nhằm thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng pháp luật là phù hợp.

[3]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4]. Bị cáo Lê Thị Kim T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Thị Kim T, sửa Bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo.

  2. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Kim T 01(một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Lê Thị Kim T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Đà Nẵng;
  • - Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ;
  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - CQCSĐT Công an quận Cẩm Lệ;
  • - Phòng HSNV – CA Tp Đà Nẵng;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - Vụ GĐKT I – TAND tối cao;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký và đóng dấu

Phan Vĩnh Chuyển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2024/HS-PT ngày 31/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về vụ án hình sự phúc thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 151/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ 16 giờ đến 18 giờ ngày 17/01/2024, Lê Thị Kim T đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, lén lút thực hiện hành vi trộm cắp chiếm đoạt của ông Tăng Thanh C 01(một) điện thoại hiệu S A34 5G trị giá 4.213.000 đồng (Bốn triệu, hai trăm mười ba ngàn đồng) và bà Phan Thị Thanh V 01(một) xe mô tô hiệu Honda Scoopy trị giá 37.420.000 đồng (Ba mươi bảy triệu, bốn trăm hai mươi ngàn đồng). Tổng giá trị tài sản Lê Thị Kim T đã chiếm đoạt là 41.633.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu, sáu trăm ba mươi ba ngàn đồng).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger