TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 151/2023/HS-ST Ngày 30 - 11 - 2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Điều Hoàng;
- Ông Nguyễn Chánh Bồn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phước - Kiểm sát viên.
***
Hôm nay, ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại Hội trường xét xử B – Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 196/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 176/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 đối với:
- Bị cáo Làu Tắc L, sinh năm 1985, tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: Ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: Ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Làu A S, sinh năm 1958 và bà Từ Nghĩa Đ, sinh năm 1957; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;
Về nhân thân:
- - Tại Bản án số 291/2008/HSST ngày 25/11/2008, của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt Làu Tắc L (L) 03 năm tù, về tội “Phá hủy công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2010; chấp hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm ngày 16/4/2009;
- - Tại Bản án số 124/2017/HSST ngày 21/12/2017, của Tòa án nhân dân huyện Định Quán xử phạt Làu Tắc L (Lìn) 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/4/2019, đã chấp hành án phí hình sự sơ thẩm tại Trại giam S2 ngày 25/5/2018.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 21/7/2023, đến ngày 27/7/2023, chuyển tạm giam và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Đ, tỉnh Đồng Nai từ đó cho đến nay.
- Bị hại: Ông Phạm Văn B, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Khu C, ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Quốc P, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Khu C, ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai
(Bị cáo L có mặt, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 06/11/2022, Làu Tắc Lìm đi bộ trên đường bê tông thuộc khu B, ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Rsx màu xanh đen biển số 60P6-7843 của ông Phạm Văn B, sinh năm 1962, trú tại ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai để trong khu vực rẫy mít bên đường thuộc ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai không có ai trông coi, nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Lìm đến gần xe mô tô nói trên thì phát hiện chìa khóa còn cắm sẵn trên xe nên L khởi động máy và điều khiển xe về nhà để trong rẫy Lìm đang ở tại khu E, ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Đến khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày, lực lượng Công an kiểm tra rẫy nhà của L và phát hiện chiếc xe Honda Wave Rsx màu xanh đen biển số 60P6-7843 tại nhà trong khu vực rẫy Lìm đang ở và mời Lìm lên cơ quan công an làm việc. Khi thấy lực lượng công an, L đã bỏ chạy, trốn khỏi địa phương, đến ngày 21/7/2023, Làu Tắc L đến Cơ quan Công an đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Làu Tắc L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân (Bút lục số 50-52, 55-56, 60-63).
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ ngày 28/12/2022, kết luận trị giá tài sản thiệt hại là: 5.550.000 đồng (Bút lục số 30-31).
Vật chứng vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu xanh đen biển số 60P6-7843 là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Phạm Quốc P, SN 1990, trú tại ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (Ông P là con của ông B), Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trao trả lại cho chủ sở hữu (Bút lục số 28, 32-34).
Trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm (Bút lục số 53).
Tại Cáo trạng số: 140/CT/VKSĐQ ngày 04 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Làu Tắc L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Viết tắt là Bộ luật hình sự).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Làu T Lìm mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Buộc bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên toà, bị cáo L thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, không có ý kiến, tranh luận đối phần trình bày luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai quy định tại Điều 280, 281 và khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng gồm Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Bị hại ông Phạm Văn B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Quốc P đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do tại phiên toà. Xét thấy việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng này, không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo L nên căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
[2.1] Những chứng cứ xác định hành vi bị truy tố có tội và tội danh:
Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, bị cáo Làu Tắc L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 06/11/2022, tại địa chỉ: khu B, ấp B, xã P, huyện Đ, bị cáo L đã có hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu xanh đen, biển số 60P6-7843 của ông Phạm Văn B theo Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ ngày 28/12/2022, kết luận trị giá tài sản là 5.550.000 đồng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong bản tự khai/bản tường trình của bị cáo, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can, bản tự khai/bản tường trình của bị hại, biên bản ghi lời khai bị hại, quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản nhận dạng, kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi do bị cáo Làu Tắc L thực hiện đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.2] Bị cáo không tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[2.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú, có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, tài sản đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo pháp luật nhà nước ta.
[2.4] Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, có nhân thân rất xấu, đã nhiều lần bị Toà án xử phạt về các tội khác nhau nên nhận thức, hiểu biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn bất chấp, tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là lỗi cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra xã hội một thời gian để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật, đồng thời giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Xử lý vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu xanh đen biển số 60P6-7843 là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Phạm Quốc P, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trao trả lại cho chủ sở hữu ông P.
[4] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại và vấn đề dân sự:
Qúa trình điều tra, bị hại ông Phạm Văn B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Quốc P không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Buộc bị cáo L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng tại phiên tòa:
Đối với phần trình bày luận tội của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Đối với phần trình bày, lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự;
Căn cứ các Điều 136, 260, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269, các Điều 280, 281, 292, 298, 299, 326, 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Áp dụng Luật Phí và Lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Làu Tắc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Làu Tắc L 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/07/2023.
- Bị cáo Làu Tắc L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo L được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật tại chính quyền địa phương.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thành Đạt |
Bản án số 151/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 151/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Làu Tắc Lim phạm tội Trộm cắp tài sản"
