|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 151/2024/DS-ST
Ngày: 30/8/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phong
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Thanh Thuý
Bà Nguyễn Thị Bé Em
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diễm Thúy- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre
Vào ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 205/2024/TLST-DS ngày 20/6/2024 về việc: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2024/QĐXXST ngày 24 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 201 ngày 12/8/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S
Địa chỉ: 2 N, phường V, Quận C, Tp ..
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Văn T, chức vụ: Giám Đốc Chi nhánh V1 – Ngân hàng TMCP S
Ông Lê Văn T uỷ quyền cho Bà Huỳnh Như N, sinh năm: 1993; Chức vụ: Chuyên viên quản lý nợ (có mặt)
* Bị đơn: Bà Văn Bảo T1, sinh năm 1995
Địa chỉ: Số A, khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, cùng các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án cũng như tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) tham gia tố tụng là Bà Huỳnh Như N trình bày:
Ngày 15/05/2017, Ngân hàng TMCP S (Ngân hàng) có ký với bà Văn Bảo T1 hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 906561 (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà Văn Bảo T1, Ngân hàng đã đồng ý cấp 01 thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 45.000.000 đồng, số thẻ là 472074 - 8043, Lãi suất trong hạn áp dụng khi cấp thẻ là: 2,15%/tháng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Khi phát sinh quá hạn, áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% (3,23%/tháng) - Điều 23, lãi suất ghi trên hợp đồng tín dụng và tiến hành các biện pháp khởi kiện để thu hồi nợ vay theo quy định.
Quá trình giao dịch được thể hiện chi tiết trên bản sao kê quá hạn thẻ, thứ tự thanh toán thẻ tín dụng căn cứ theo điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc nhắc nhở nhưng bà Văn Bảo T1 không có thiện chí trả nợ. Do bà Văn Bảo T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 23 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngày 31/08/2023, Ngân hàng đã tạm khóa quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần liên hệ bà Văn Bảo T1 cùng tìm hướng giải quyết các khoản vay nhưng bà Văn Bảo T1 cố tình không hợp tác. Do vậy Ngân hàng yêu cầu khách hàng có trách nhiệm thanh toán khoản nợ quá hạn, đồng thời tạo điều kiện về mặt thời gian để khách hàng trả nợ, tuy nhiên đến nay khách hàng vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng).
Nay yêu cầu Tòa xem xét:
Buộc bà Văn Bảo T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S tính từ ngày quá hạn (ngày 31/08/2023) đến ngày 30/8/2024. Tổng số tiền là: 74.333.080 đồng (Sáu mươi bốn triệu một trăm năm mươi ba nghìn tám trăm bốn mươi bảy đồng) trong đó nợ gốc: 49.397.375 đồng, lãi quá hạn: 24.935.705 đồng và phải chịu lãi phát sinh của món vay từ ngày 31/8/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 906561 (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Buộc bà Văn Bảo T1 là bên vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ án phí.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã nhiều lần mời bà Văn Bảo T1 với vai trò là bị đơn đến để tiến hành hòa giải nhưng bà T1 vắng mặt không lý do nên không thể tiến hành hòa giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngày 03/4/2024 Ngân hàng thương mại cổ phần S có đơn khởi kiện yêu cầu bà Văn Bảo T1 trả số tiền nợ thẻ tín dụng tính đến ngày 30/08/2024 là 74.333.080 đồng (Sáu mươi bốn triệu một trăm năm mươi ba nghìn tám trăm bốn mươi bảy đồng) trong đó nợ gốc: 49.397.375 đồng, lãi quá hạn: 24.935.705 đồng và Ngân hàng tiếp tục tính lãi của thẻ tín dụng trên từ ngày 31/8/2024 đến khi bà Văn Bảo T1 trả tất nợ cho Ngân hàng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 15/5/2017. Xét đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động dân sự giữa tổ chức có đăng ký kinh doanh với cá nhân nên được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bà Văn Bảo T1 có địa chỉ tại thành phố B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Bà Văn Bảo T1 mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà T1 vẫn vắng mặt không lý do, đồng thời bà T1 cũng không có người đại diện nên không thể tiến hành phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được, Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng ông vẫn không có mặt để tham gia phiên tòa. Do đó, căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Văn Bảo T1.
[3] Về nội dung vụ án: Ngày 15/5/2017 Ngân hàng thương mại cổ phần S – Chi nhánh B có cấp thẻ tín dụng cho bà Văn Bảo T1, hạn mức tín dụng thẻ được cấp là 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng), mục đích tiêu dùng, lãi suất: Lãi suất trong hạn áp dụng khi cấp thẻ là: 2,15%/tháng. Khi phát sinh quá hạn, áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% (3,23%/tháng. Qua nhiều lần làm việc nhắc nhở nhưng bà Văn Bảo T1 không có thiện chí trả nợ. Do bà Văn Bảo T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 23 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng vay bà V bảo T1 không thực hiện đúng theo cam kết hợp đồng khi không thanh toán phần vốn lãi cho Ngân hàng nên toàn bộ khoản nợ của khoản vay trên của khách hàng từ ngày 31/08/2023, Ngân hàng đã tạm khóa quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tạm tính đến hết ngày 30/8/2024, bà V bảo T1 còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần S các khoản sau: 74.333.080 đồng (Bảy mươi bốn triệu ba trăm ba mươi mươi ba nghìn không trăm tám mươi đồng) trong đó nợ gốc: 49.397.375 đồng, lãi quá hạn: 24.935.705 đồng và Ngân hàng tiếp tục tính lãi của thẻ tín dụng trên từ ngày 31/8/2024 đến khi bà Văn Bảo T1 trả tất nợ cho Ngân hàng. Nay Ngân hàng yêu cầu bà Văn Bảo T1 phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S khoản nợ trên, đồng thời yêu cầu tính lãi tiếp tục từ ngày 31/8/2024 cho đến khi bà Văn Bảo T1 trả tất nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Tại phần Trách nhiệm thanh toán của chủ thẻ trong Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cảu Ngân hàng thương mại cổ phần S thể hiện: “Chủ Thẻ đồng ý đã nhận được Thẻ khi T2 đã có phát sinh giao dịch. Chủ Thẻ, là cả Chủ Thẻ Chính và bất kỳ và tất cả Chủ Thẻ Phụ, chịu trách nhiệm liên đới đối với việc thanh toán tất cả các Giao Dịch và tất cả các khoản phí, chi phí phát sinh trên Tài Khoản do việc sử dụng Thẻ bao gồm nhưng không giới hạn những khoản phí không hoàn lại, lệ phí và thuế theo qui định của pháp luật cho đến khi thanh toán đầy đủ cho Đơn Vị Phát Hành Thẻ mà không cần có bằng chứng hóa đơn được ký hay chứng từ khác”.
Cam kết đã thể hiện việc bà Văn Bảo T1 có nghĩa vụ thanh toán dư nợ đầy đủ và đúng hạn theo yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần S. Điều này chứng tỏ bà T1 phải chịu trách nhiệm thanh toán nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng. Vì vậy bà Văn Bảo T1 phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng khoản nợ trên. Do đó yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần S là phù hợp nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S được chấp nhận nên án phí dân sự có giá ngạch bà Văn Bảo T1 phải chịu là 3.716.685 đồng. (Ba triệu bảy trăm mười sáu nghìn sáu trăm tám mươi lăm đồng)
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 351, 352; 335; 336; 338; 340; 342; 463; 468 Bộ luật dân sự;
Căn cứ vào các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ các Điều 30, 35, 147, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; cụ thể tuyên:
Buộc bà Văn Bảo T1 có trách nhiệm trả cho Ngân Hàng TMCP S (do Ngân hàng thương mại cổ phần S – Chi nhánh V1 nhận thay) số tiền tổng cộng vốn gốc: 74.333.080 đồng (Bảy mươi bốn triệu ba trăm ba mươi mươi ba nghìn không trăm tám mươi đồng) trong đó nợ gốc: 49.397.375 đồng, lãi quá hạn: 24.935.705 đồng. Bà Văn Bảo T1 còn phải tiếp tục chịu lãi suất trên số nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 15/5/2015 ký giữa Ngân Hàng TMCP S và Bà Văn Bảo T1 từ ngày 31/8/2024 cho đến khi Bà Văn Bảo T1 trả tất nợ cho Ngân Hàng TMCP S.
2. Về án phí: Án phí Dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 3.716.685 đồng. (Ba triệu bảy trăm mười sáu nghìn sáu trăm tám mươi lăm đồng), bà Văn Bảo T1 phải nộp.
Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoàn trả lại cho Ngân Hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí là 1.603.800 đồng (Một triệu sáu trăm lẻ ba nghìn tám trăm đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002607 ngày 14/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Duy Phong |
Bản án số 151/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 151/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của NG S
