|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 151/2024/HS-ST
Ngày 30-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Phong Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Nga
Ông Nguyễn Văn Hạnh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Thư ký Toà án nhân dân
quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số 110/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 606/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 631/2024/QĐST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Văn N, sinh năm 1984 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn H và bà Hoàng Kim O (đã chết); có vợ là Phạm Thị L và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 22/01/2024; có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Việt T, sinh năm1996; nơi cư trú: Số A L, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong thời gian từ năm 2011 đến đầu năm 2012, Vũ Văn N quen biết và nảy sinh tình cảm với chị Nguyễn Thị Việt T, sinh ngày 19/8/1996. Cũng trong thời gian này, N đã quan hệ tình dục với chị T (thời điểm này chị T chưa đủ 16 tuổi) làm chị T có thai. Ngày 05/9/2012, chị T sinh con trai đặt tên là Nguyễn Việt A. Chị T và gia đình đã trình báo sự việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L.
Cơ quan điều tra triệu tập N đến làm việc, Nhất vắng mặt tại địa phương. Ngày 28/12/2023, N đến Công an quận L trình diện. Cơ quan điều tra tiến hành lấy mẫu để trưng cầu giám định ADN xác định quan hệ huyết thống trực hệ Bố - Con giữa Vũ Văn N và Nguyễn Việt A. Tại Kết luận giám định số 39 ngày 04/01/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Đối tượng Vũ Văn N và cháu Nguyễn Việt A có quan hệ huyết thống trực hệ B - Con.”
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Văn N khai nhận từ năm 2009 đến năm 2012, Nhất là lái xe của Công ty đệm mút Anh M, địa chỉ: Cầu R, A, Hải Phòng nên có quen biết chị Nguyễn Thị Việt T. Nhất và chị T thường xuyên nhắn tin, gọi điện nên hai người nảy sinh quan hệ tình cảm. Khoảng cuối năm 2011 đến đầu năm 2012, N và chị T đã tự nguyện quan hệ tình dục 01 lần tại 01 nhà nghỉ gần khu vực cầu vượt L, quận N, Hải Phòng. Sau đó, N nghỉ việc tại công ty. Vài tháng sau, N nhận được tin chị T có thai nên đã cùng bố (là ông Vũ Văn H) đến gặp gia đình chị T để nói chuyện. Tại nhà chị T, N thừa nhận có quan hệ tình cảm và đã quan hệ tình dục với chị T và N đã tự viết 01 bản tường trình đề ngày 30/4/2012 về việc đã quan hệ tình dục với chị T, tuy nhiên nội dung bản tường trình là N viết theo nội dung gia đình chị T đã soạn sẵn, không phải ý chí của N.
Bị hại - Chị Nguyễn Thị Việt T ban đầu khai: Năm 2011 Chị T ở nhà bà Nguyễn Thị M1 (là cô ruột) tại Cầu R, A, Hải Phòng nên có quen biết Vũ Văn N là lái xe cho công ty của bà M1. Nhất rủ chị đi chơi, uống nước nói chuyện, chị đồng ý. Sau khi uống nước xong, chị thấy người lơ mơ, đầu óc không tỉnh táo rồi ngủ thiếp đi, khi tỉnh giấc thì thấy đang nằm trên giường trong nhà nghỉ. Sau khi được N đưa về nhà, chị phát hiện quần lót dính máu nên nghĩ N đã quan hệ tình dục với chị. Sau đó, chị hỏi thì N thừa nhận đã quan hệ tình dục với chị. Thời gian sau, chị đã nảy sinh tình cảm với N và đồng ý quan hệ tình dục với N 05 lần nữa. Đến tháng 4/2012, chị được gia đình đưa đi kiểm tra và phát hiện chị có thai. Lúc này, chị kể với gia đình về việc đã quan hệ tình dục với N. Do thời gian đã lâu nên chị không còn nhớ việc N đến gặp gia đình chị viết bản tường trình cụ thể như thế nào.
Ngày 11/7/2024 chị T thay đổi lời khai, chị T xác nhận chị và N chỉ quan hệ tình dục 01 lần vào khoảng thời gian cuối năm 2011, do chị tự nguyện. Trước đây chị khai N nhiều lần quan hệ tình dục với chị là không đúng bởi vì thời gian đó chi đang bức xúc với N. Sau khi sự việc xảy ra, Vũ Văn N đã có trách nhiệm đóng góp
tiền để nuôi dưỡng cháu Nguyễn Việt A nên chị T có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự đối với N.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại – Chị T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 296.000.000 đồng, cụ thể mỗi tháng bị cáo phải có trách nhiệm thanh toán cho bị hại 4.000.000đồng kể từ tháng 7 năm 2024 cho đến 15/9/2030 phải thanh toán xong số tiền trên.
Ông Nguyễn Văn B1 (bố đẻ chị T) khai: Ban đầu, sau khi phát hiện việc chị T có thai, gia đình đã yêu cầu Vũ Văn N và bố đến gia đình để nói chuyện. Tại buổi nói chuyện, N đã tự nguyện viết 01 bản tường trình về việc đã quan hệ tình dục với chị T. Đến ngày 18/01/2024, ông B1 khai do sự việc xảy ra đã lâu nên ông không còn nhớ việc N viết bản tường trình cụ thể như thế nào.
Tại Cáo trạng số 114/CT-VKSLC ngày 20 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận L đã truy tố bị cáo Vũ Văn N về tội “Giao cấu với trẻ em” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 115 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại – Chị T vắng mặt tại phiên tòa, song chị T có đơn xin xét xử vắng mặt đồng thời yêu cầu bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho chị số tiền 296.000.000₫ (Hai trăm chín mươi sáu triệu đồng) cụ thể mỗi tháng bị cáo phải có trách nhiệm thanh toán cho chị là 4.000.000 đồng kể từ tháng 7 năm 2024 cho đến ngày 15/9/2030 bị cáo phải thanh toán xong số tiền 296.000.000₫ nêu trên.
Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 115 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Vũ Văn N mức án 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “ Giao cấu với trẻ em” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mưới) tháng kể từ ngày tuyên án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 296.000.000 đồng, kể từ tháng 7 năm 2024 mỗi tháng bị cáo phải có trách nhiệm thanh toán cho bị hại 4.000.000đồng cho đến 15/9/2030 phải thanh toán xong số tiền 296.000.000 đồng trên. Bị cáo đồng ý và không có ý kiến gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu bồi thường trên của bị hại.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (vào khoảng thời gian cuối năm 2011), bị hại là chị Nguyễn Thị Việt T, sinh năm 1996 nên chưa đủ 16 tuổi. Song tại thời điểm xét xử bị hại đã đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử áp dụng các quy định về tố tụng theo thủ tục chung để xét xử vụ án.
- Về hành vi giao cấu đối với trẻ em:
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, nội dung cáo trạng, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Do có quan hệ tình cảm nam nữ nên khoảng cuối năm 2011, Vũ Văn N là người đủ 18 tuổi khi được sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Việt T đã thực hiện hành vi giao cấu đối với chị Nguyễn Thị Việt T (thời điểm này chị T chưa đủ 16 tuổi) làm chị T có thai.
[4] Bị cáo thực hiện hành vi giao cấu với chị Nguyễn Thị Việt T vào khoảng thời gian cuối năm 2011 - Trước thời điểm 0 giờ ngày 01/01/2018 (ngày Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực); căn cứ Điều 7 Bộ luật Hình sự 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; hành vi của bị cáo bị xét xử theo qui định của Bộ luật Hình sự năm 1999 là phù hợp. Theo đó hành vi của bị cáo Vũ Văn N đã thỏa mãn yếu tố cấu thành tội " Giao cấu với trẻ em" với tình tiết định khung hình phạt “Làm nạn nhân có thai” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 115 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.
[5] Đối với việc chị Nguyễn Thị Việt T khai chị T không tự nguyện quan hệ tình dục với Nhất lần đầu tiên và N đã quan hệ tình dục với chị T nhiều lần. Sau đó đến ngày 11/7/2024 chị T thay đổi lời khai và xác nhận chỉ quan hệ tình dục duy nhất 01 lần vào khoảng cuối năm 2011 do chị tự nguyện. Xét lời khai của bị hại
phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, nên hành vị của bị cáo chỉ đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội "Giao cấu với trẻ em" với tình tiết định khung hình phạt “Làm nạn nhân có thai” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 115 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 như Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[6] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của trẻ em là các khách thể được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[7] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[8] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt.
- Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
[9] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về trách nhiệm dân sự:
[10] Bị hại - Chị T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 296.000.000 đồng (Hai trăm chín mươi sáu triệu đồng), cụ thể mỗi tháng bị cáo phải có trách nhiệm thanh toán cho bị hại số tiền là 4.000.000đồng (Bốn triệu đồng) kể từ tháng 7 năm 2024 cho đến ngày 15/9/2030 bị cáo phải thanh toán xong số tiền 296.000.000 đồng nêu trên. Tại phiên tòa bị cáo chấp nhận yêu cầu bồi thường của bị hại. Xét thỏa thuận của các bên là tự nguyện, không trái với đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về án phí:
[11] Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[12] Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 115 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đôi, bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn N phạm tội “Giao cấu với trẻ em”
- Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn N 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, Thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Vũ Văn N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Vũ Văn N.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 590 Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại – Nguyễn Thị Việt T số tiền 296.000.000₫ (Hai trăm chín mươi sáu triệu đồng), cụ thể mỗi tháng bị cáo phải thanh toán cho chị T số tiền là 4.000.000đồng kể từ tháng 7 năm 2024 cho đến 15/9/2030 phải thanh toán xong số tiền 296.000.000đ nêu trên.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền nói trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự tuong ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Vũ Văn N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 14.800.000đồng (Mười bốn triệu tám trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Phong Lan |
Bản án số 151/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về giao cấu với trẻ em
- Số bản án: 151/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giao cấu với trẻ em
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn Nhất giao cấu
