Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ
TỈNH BẮC NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 151/2024/HS-ST
Ngày 30/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.
  • Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thế Sách, bà Nguyễn Thị Huệ.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 152/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thọ Q, sinh ngày 1993; Tên gọi khác: Không. HKTT: Khu phố G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên bố: Nguyễn Thọ T (đã chết). Họ tên mẹ: Nguyễn Thị X, sinh năm 1964. Gia đình có: 04 chị em, bị cáo là con út. Họ và tên vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1993. Con: Có 03 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2021.
    • - Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
    • - Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.
  2. Quách Văn T2, sinh ngày 2001; Tên gọi khác: Không. HKTT: Xóm T, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Dân tộc: Mường; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên bố: Quách Văn D, sinh năm 1975. Họ tên mẹ: Bùi Thị T3, sinh năm 1976. Gia đình có: 03 anh chị em, bị cáo là con út. Vợ, con: Chưa có.
    • - Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
    • - Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.

Người bào chữa cho bị cáo Quách Văn T2: Ông Hoàng Nhật H – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

  • + Ông Nguyễn Kim S – Cán bộ phụ trách tin học Toà án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
  • + Cán bộ phụ trách tin học Trại tạm giam – Công an tỉnh B. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 00 phút ngày 14/4/2024, tại khu phố G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, Công an thị xã Q phối hợp với Công an phường P, thị xã Q bắt quả tang Nguyễn Thọ Q có hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Quách Văn T2. Tang vật thu giữ: Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Thêm 01 gói giấy màu trắng, trong là 01 gói giấy bạc màu trắng, có chứa chất bột màu trắng, thu giữ tại lòng bàn tay trái của Quỹ 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng có sự chứng kiến của anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1994, HKTT: Thôn S, xã L, huyện G, thành phố Hà Nội và anh Đoàn Văn T4, sinh năm 1993, HKTT: Khu phố H, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Q tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Q tại khu phố G, quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Cơ quan CSĐT công an thị xã Q đã tiến hành kiểm tra nồng độ ma tuý xác định: Nguyễn Thọ Q và Quách Văn T2 đều dương tính với chất ma tuý.

Tại bản Kết luận giám định số 1024/KL-KTHS ngày 16/4/2024 Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

“Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) gói giấy bạc màu trắng (được bọc ngoài bằng 01 gói giấy màu trắng) gửi giám định có khối lượng là 0,1427 gam, là ma tuý, loại ma tuý Heroine”.

Heroine có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục các chất ma túy và tiền chất”.

Tại Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q, Nguyễn Thọ Q và Quách Văn T2 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 106/CT-VKSQV ngày 09/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố Nguyễn Thọ Q về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Quách Văn T2 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Q đã khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 14/4/2024, khi Q đang ở công viên G, phường P thì có Quách Văn T2 hỏi mua 200.000 đồng ma túy heroine để sử dụng cho bản thân. Quỹ đồng ý rồi đưa cho T2 01 gói giấy màu trắng, trong là gói giấy mạc màu trắng chứa chất bột màu trắng, T2 cầm gói ma tuý vừa mua được của Quỹ trong lòng bàn tay phải, đồng thời, tay trái đưa cho Q tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. Khi hai bên vừa giao dịch mua bán xong thì bị lực lượng công an bắt quả tang, thu giữ tang vật như trên. Về nguồn gốc số ma túy Quỹ bán cho Thêm: Buổi sáng ngày 14/4/2024, Q đi đến chân cầu N thuộc địa phận phường Đ, thành phố B gặp một người đàn ông không quen biết mua 100.000 đồng ma túy được 01 gói giấy màu trắng, trong là giấy bạc màu trắng chứa chất bột màu trắng, mục đích có ai hỏi mua thì để bán kiếm lời. Bị cáo Q đã thừa nhận hành vi của mình là có tội, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố bị cáo về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" là đúng. Đối với bị cáo T2, bị cáo cũng thừa nhận vào hồi 16 giờ ngày 14/4/2024, bị cáo đã mua ma tuý của Q với giá 200.000 đồng để sử dụng, khi chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng công an bắt quả tang, bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là đúng.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo:

  • Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thọ Q phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" và áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Thọ Q từ 26 – 29 tháng tù.
  • Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Quách Văn T2 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt: Quách Văn T2 từ 13 – 16 tháng tù.
  • Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
  • Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ, tịch thu tiêu huỷ mẫu vật chứng còn lại sau giám định niêm phong trong phong bì thư có dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B.

Bị cáo Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T2.

Người bào chữa cho bị cáo Quách Văn T2 nhất trí với tội danh, điều luật và hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, xử phạt các bị cáo với hình phạt nhẹ nhất.

Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng và đầy đủ các hành vi, quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; thời gian, địa điểm, vật chứng thu được, lời khai của những người làm chứng, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Hồi 16 giờ 00 phút ngày 14/4/2024 tại công viên thuộc khu phố G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an thị xã Q, phối hợp với Công an phường P bắt quả tang Nguyễn Thọ Q có hành vi bán trái phép 0,1427 gam ma túy Heroine cho Quách Văn T2 để lấy số tiền 200.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thọ Q đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được được quy định tại khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự; Hành vi của bị cáo Quách Văn T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho con người, cộng đồng và cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, tiếp tay cho những kẻ buôn bán ma túy là mầm mống của nhiều căn bệnh thế kỷ cũng như các tệ nạn xã hội khác. Chính vì vậy hành vi của các bị cáo phải được xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra, ngoài hình phạt chính cần phạt các bị cáo một khoản tiền sung công quỹ Nhà nước mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nhưng xét thấy các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản và thu nhập nên miễn hình phạt tiền cho các bị cáo như lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tại phiên tòa là phù hợp.

[6] Về vật chứng của vụ án:

  • Đối với số tiền 200.000 đồng là tiền bị cáo Q bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • Đối với mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B là vật cấm cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Liên quan trong vụ án này còn có:

  • - Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Q, Q không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
  • - Đối với kết quả xét nghiệm dương tính với chất ma túy của Nguyễn Thọ QQuách Văn T2, ngày 17/4/2024 cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền đối với Q và T2 là đúng quy định.

Về án phí:

  • Bị cáo Quỹ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
  • Bị cáo T2 là người dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, căn cứ quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T2.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thọ Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Quách Văn T2 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:

Xử phạt: N (hai bốn) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:

Xử phạt: Quách Văn Thêm 12 (mười hai) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ.

Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật chứng còn lại sau giám định niêm phong trong phong bì thư có dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B.

(Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 120 ngày 08/7/2024 và Biên lai thu tiền số 0001573 ngày 03/7/2024 giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ).

Về án phí: Bị cáo Q phải chịu 200.000 đồng án phí HSST. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T2.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:
  • - Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKS, CA, THADS thị xã Quế Võ;
  • - VKS, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo và người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Thị Thu Thảo
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 151/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thọ Q có hành vi bán trái phép 0,1427 gam ma túy Heroine cho Quách Văn T để lấy số tiền 200.000 đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger