|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 151/2024/HS-ST Ngày 28 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ngân
Bà Vũ Thị Hòa
Thư ký phiên toà: Ông Phùng Mạnh Cường – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Lĩnh- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 146/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024; Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 44/2024/QĐ-TA ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. NGUYỄN VĂN T;
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 02 tháng 9 năm 1958 tại thành phố L, tỉnh Lào Cai; Đăng ký thường trú và nơi ở: Số nhà D, phố Đ, tổ C, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 7/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T1 và bà Dương Tú A (Đều đã chết) Bị cáo có vợ là Dền Thị H và có 04 con, con lớn sinh năm 1978, con nhỏ sinh năm 1992; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/8/2024 đến ngày 30/8/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại số nhà D, phố Đ, tổ C, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
2. PHẠM VĂN T2;
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 09 tháng 9 năm 1983 tại huyện B, tỉnh Lào Cai; Đăng ký thường trú: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh lào Cai; Nơi ở trước khi bị bắt: Số nhà A, đường K, tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Quang T3 (Đã chết) và bà Vũ Thị D. Bị cáo có vợ là Trần Thị S và có 01 con sinh năm 2010; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 26/8/2024, tạm giam ngày 01/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 26/08/2024, Phạm Văn T2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24P6 – 9326 đi từ chỗ ở đến số nhà D, phố Đ, tổ C, phường K, thành phố L đến gặp Nguyễn Văn T hỏi mua ma tuý với giá là 100.000 đồng. Nguyễn Văn T đồng ý nên đi vào buồng lấy một cục ma tuý H1 gói vào giấy bạc để đưa cho Phạm Văn T2. Tuy nhiên, Phạm Văn T2 không đưa đủ 100.000 đồng mà chỉ đưa cho Nguyễn Văn T 70.000 đồng; Nguyễn Văn T đồng ý cho Phạm Văn T2 nợ lại 30.000 đồng. Sau khi nhận ma túy, Phạm Văn T2 tách thành 02 cục và gói thành 02 gói, một gói cất giấu trong túi quần và một gói cất giấu trong ốp điện thoại. Sau đó, Phạm Văn T2 điều khiển xe mô tô về nhà, khi đi đến trước cửa số nhà A, đường K, tổ B, phường L, thành phố L thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế, Ma tuý Công an thành phố L phát hiện, bắt quả tang.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T. Quá trình khám xét khẩn cấp, thu giữ 01 (một) túi nilon có mép miết bên trong có chất bột khô màu trắng, vón cục. Nguyễn Văn T khai nhận là ma túy Heroine để bán kiếm lời. Trưa ngày 23/8/2024, Nguyễn Văn T một mình đi nhờ xe của một người không quen biết đến khu vực cầu M đi thị xã S, tỉnh Lào Cai, gặp một người nam giới dân tộc M và mua 1.700.000 đồng ma túy. Nguyễn Văn T về nhà cất giấu ma túy, mục đích để bán kiểm lời. Khoảng 11 giờ ngày 26/8/2024 Nguyễn Văn T đã bán 01 gói ma túy Heroine cho Phạm Văn T2.
Kết luận giám định số 304/KL- GĐMT ngày 29/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 0,123 gam các cục chất bột khô, màu trắng thu giữ của Phạm Văn T2 gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.
Kết luận giám định số 305/KL-GĐMT ngày 29/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 2,455 gam các cục chất bột khô, màu trắng thu giữ tại nhà Nguyễn Văn T gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn T khai mua ma tuý heroine bán cho Phạm Văn T2 để kiếm lời. Bị cáo Phạm Văn T2 khai đã nhận toàn bộ số ma túy thu giữ là bị cáo mua của Nguyễn Văn T với mục đích để sử dụng cho bản thân.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, tang vật thu giữ và kết luận giám định.
Cáo trạng số 144/CT-VKS ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo Phạm Văn T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 - Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 - Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn T2 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Đề nghị xử lý vật chứng vụ án, T2 án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Ngày 26/8/2024, bị cáo Phạm Văn T2 đã có hành vi mua 0,123 gam Heroine của Nguyễn Văn T để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện và bắt quả tang; Bị cáo Nguyễn Văn T đã có hành vi mua Heroine nhằm mục đích để bán kiếm lời và đã bán cho Phạm Văn T2 0,123 gam Heroine. Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng ma túy 0,123 gam H1 đã bán cho Phạm Văn T2 và 2,455 gam Heroine thu giữ tại nhà của bị cáo nhằm mục đích để bán kiếm lời với tổng khối lượng là 2,578 gam Heroine. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, hành vi của bị cáo Phạm Văn T2 đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng: Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết pháp luật, mặc dù biết việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo thiếu ý thức chấp hành, cố ý thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố L. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật, cần áp dụng hình phạt tù, có mức án tương xứng với hành vi phạm tội, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật Hình sự mà các bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án: Đối với số tiền 70,000 đồng (Bảy mươi nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Văn T đã nộp vào tài khoản tạm giữ của Công an thành phố L mở tại Ngân hàng N, chi nhánh K1 - Lào Cai II là tiền bị cáo do phạm tội mà có cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát 24P6 - 9326, số khung: RLHJF1805AY548009, số máy: JF27E-0570072 thu giữ của Phạm Văn T2 là tài sản của bị cáo, bị cáo dùng chiếc xe làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, số Imei: 3586982093897454, gắn 01 thẻ sim và 01 (một) ốp điện thoại, thu giữ của bị cáo Phạm Văn T2 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A34 5G, số I: 352689820132276; số Imei 2: 352854770132276, gắn 01 thẻ sim thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T là tài sản của các bị cáo cần trả lại cho các bị cáo, tuy nhiên, các bị cáo còn phải thi hành khoản tiền án phí nên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 0,066 gam ma túy Heroine thu giữ của Phạm Văn T2, 2,347 gam ma tuý Heroine thu giữ của Nguyễn Văn T còn lại sau trích mẫu giám định thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 (một) cuộn giấy bạc, có lõi bằng giấy cứng hình trụ tròn dài 31cm, đường kính 3,5cm, đã qua sử dụng thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
[7] Về các vấn đề khác: Đối với người nam giới bán ma túy cho Nguyễn Văn T vào ngày 23/8/2024 ở khu vực cầu M đi thị xã S, tỉnh Lào Cai; quá trình điều tra không xác định được thông tin lý lịch nên không có căn cứ để xem xét xử lý. Khi nào xác minh, làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136- Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án (Khấu trừ cho bị cáo 04 ngày tạm giữ).
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Phạm Văn T2 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo 26/8/2024.
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,066 (Không phẩy không trăm sáu mươi sáu) gam ma túy Heroine cho riêng vào từng túi nilon đựng mẫu ghi ký hiệu M1, M2. Cho các túi nilon đựng vật chứng còn lại sau trích mẫu M1, M2 cùng 02 mảnh giấy bạc và bì niêm phong ban đầu gửi giám định vào bì thư in sẵn của Phòng K Công an tỉnh L dán kín lại; Trên mép dán có chữ ký của 04 người và 02 dấu thu nhỏ màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh L và được dán phủ bằng lớp băng dính trong suốt. Mặt còn lại của bì niêm phong có ghi dòng chữ “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Phạm Văn T2 ngày 26/8/2024 tại tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai”; Tịch thu tiêu hủy 2,347 (Hai phẩy ba trăm bốn mươi bẩy) gam ma túy Heroine cho riêng túi nilon đựng vật chứng còn lại sau trích cùng 01 túi nilon có mép miết màu đỏ và bì niêm phong ban đầu gửi giám định vào bì thư in sẵn của Phòng K Công an tỉnh L dán kín lại; Trên mép dán có chữ ký của 04 người và 02 dấu thu nhỏ màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh L và được dán phủ bằng lớp băng dính trong suốt. Mặt còn lại của bì niêm phong có ghi dòng chữ “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi khám xét chỗ ở N tại tổ C, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai ngày 26/8/2024";
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cuộn giấy bạc, có lõi bằng giấy cứng hình trụ tròn dài 31cm, đường kính 3,5cm;
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát 24P6 - 9326, số khung: RLHJF1805AY548009, số máy: JF27E-0570072 thu giữ của Phạm Văn T2;
Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, số Imei: 3586982093897454, gắn 01 thẻ sim và 01 (một) ốp điện thoại, thu giữ của bị cáo Phạm Văn T2 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A34 5G, số I: 352689820132276; số Imei 2: 352854770132276, gắn 01 thẻ sim thu giữ của bị can Nguyễn Văn T để đảm bảo thi hành án;
(Vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/11/2024)
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 70,000 đồng (Bảy mươi nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Văn T đã nộp vào tài khoản tạm giữ của Công an thành phố L mở tại Ngân hàng N, chi nhánh K1 - L (Theo giấy nộp tiền ngày 14/10/2024 của Công an thành phố L)
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 151/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI về vụ án hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 151/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN VĂN T, PHẠM VĂN T
