TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG Bản án số:151/2024/HS-PT Ngày 28 tháng 9 năm 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
-
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn
Các Thẩm phán: Ông Trần Hoàng Vũ và bà Nguyễn Ngọc Giao
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mộng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Mai Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 233/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị V do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, kháng cáo của bị cáo V và bị hại Nguyễn Thị Bích T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị V
sinh ngày 10/3/1987; nơi sinh: tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị G; chồng Nguyễn Văn S, có 6 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt).
Bị hại có kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Bích T
sinh ngày 01/12/1977; nơi cư trú: Tổ A, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt)
Bị hại không kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 17/7/2002; nơi cư trú: Tổ A, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đ, tỉnh An Giang thuộc Cục C1 – Bộ C2 nên không triệu tập).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại bà Nguyễn Thị Bích T
có Luật sư Ngô Văn S1 Văn phòng Luật sư Hải V1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C. Địa chỉ: N, tổ C, khóm A, thị trấn T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn C, sinh ngày 03/02/2007; (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1989; (vắng mặt)
- Cùng nơi cư trú: Tổ A, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Số nhà B, đường số H, Khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn từ trước về việc tranh chấp đất giữa gia đình bị cáo Nguyễn Thị V với gia đình bị hại bà Nguyễn Thị Bích T. Khoảng 13 giờ ngày 18/7/2022, bà Nguyễn Thị P và bà Nguyễn Thị H là chị và em của bị cáo V, cầm dao đến phần đất tranh chấp chặt ngã 3 cây xoài do bà T trồng.
Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, chị Nguyễn Thị Yến N là con của bà T, bực tức việc gia đình bị gia đình bị cáo V chặt phá 3 cây xoài nên gọi cho Từ Thị T1, Phạm Văn K, Nguyễn Đức T2, Đặng Hoàng V2, Phạm Thanh T3, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Thiện T4, Văn Công N1 mang hung khí đến nhà bị cáo V chém gây thương tích cho ông Nguyễn Phương B, bà Nguyễn Thị P là anh và chị ruột của bị cáo V, chém gây thương tích cho ông Bạch Thanh H1; đã được xét xử trong vụ án khác.
Khoảng 16 giờ cùng ngày, do tức giận việc chị N gọi người đến chém gây thương tích cho anh và chị nên bị cáo V cùng với con ruột là anh Nguyễn Văn C, sinh ngày 03/02/2007, mỗi người cầm 01 đoạn gỗ dài khoảng 0,7m đi sang quán bán nước của bà T cạnh nhà bị cáo V; bị cáo V và anh C dùng đoạn gỗ đập phá làm hư hỏng bàn, ly thuỷ tinh, chai nước ngọt, kính xe nước đá mía, ấm đun nước; ném dừa tươi và các lốc nước ngọt xuống sông; đập phá làm hư hỏng 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7 Fid của chị N; bị cáo V và anh C còn ném chai thủy tinh là hư hỏng kính tủ thờ, kính khung tranh thờ, kính tủ quần áo. Tại Kết luận định giá tài sản số 55/KL.HĐ ngày 26/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận tổng giá trị thiệt hại 3.982.000 đồng.
Ngoài ra bà T, chị N trình bày còn bị hư hỏng các tài sản gồm: 02 cái võng dù, 02 cây quạt đứng, 01 cây quạt treo tường, 01 thùng nhựa màu đỏ, 01 cái rỗ nhựa, 10 ly thủy tinh, 03 cái ca nhựa, 01 tivi không rõ hiệu. Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 06/KL.HĐ ngày 31/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh An Giang kết luận: Tổng giá trị tài sản định giá là 3.375.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm i, n khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị V 01 (một) năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Căn cứ vào: Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 30 của Bộ Luật tố tụng Hình sự; Các Điều 584, 585, 586 và 589 của Bộ Luật Dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Nguyễn Thị V có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho bị hại bà Nguyễn Thị Bích T với số tiền là 8.907.000đ. Buộc bị cáo Nguyễn Thị V có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho bị hại chị Nguyễn Thị Yến N với số tiền là 2.050.000đ. Buộc người có quyền, lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị P có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho bị hại bà Nguyễn Thị Bích T giá trị 03 cây xoài là 1.800.000₫ (một triệu tám trăm ngàn đồng). Trả lại ông Nguyễn Văn S 3.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0002353 ngày 01/7/2024 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ngày 12/8/2024, bị cáo Nguyễn Thị V làm đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo và yêu cầu giảm mức bồi thường thiệt hại.
Ngày 22/8/2024, bị hại Nguyễn Thị Bích T kháng cáo yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bị cáo, buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại bằng hiện vật.
Ngày 20/8/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 468/QĐ-VKSCT kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành về áp dụng pháp luật và hình phạt, xem xét lại trách nhiệm bồi thường của bị cáo, án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị P.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và bị hại vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định kháng nghị.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lý do kháng cáo bị cáo đã ăn năn hối cải, hình phạt cấp sơ thẩm tuyên quá nghiêm khắc đối với bị cáo, bị cáo nhờ chồng là So nộp tiền khắc phục thiệt hại nhưng không được xem xét; buộc bồi thường số tiền 10.957.000 đồng cao hơn số tiền đã định giá.
Bị hại trình bày: Yêu cầu kháng cáo tăng mức hình phạt của bị cáo từ 01 năm đến 03 năm tù và yêu cầu bồi thường thiệt hại bằng hiện vật.
Đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành; chấp nhận kháng cáo của bị cáo V về giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng án treo; không chấp nhận kháng cáo của bị hại về tăng mức hình phạt, yêu cầu bồi thường thiệt hại bằng hiện vật.
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, n khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị V 01 năm tù cho hưởng án treo, về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, thời gian thử thách 02 năm; sửa phần trách nhiệm dân sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Luật sư Ngô Văn S1 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: Thống nhất về tội danh và hình phạt đối với bị cáo V; về tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS là chưa đảm bảo, bị cáo chưa thể hiện thành khẩn, ăn năn; về tình tiết điểm b khoản 1 Điều 51 là hoàn toàn phù hợp; theo Thông tư 01 năm 2016 hướng dẫn và quy định đối với việc đóng tiền tại Cơ quan thi hành án phải ghi đầy đủ thông tin người nộp tiền và nộp tiền cho ai về nội dung gì; về bồi thường thiệt hại do bị cáo chỉ thừa nhận số tiền 3.982.000đ, nên bị hại yêu cầu mua bằng hiện vật để trả lại các tài sản bị cáo đã gây ra; về mức hình phạt thế nào thì do Hội đồng xét xử quyết định đúng pháp luật.
Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm nêu trên, Luật sư vẫn giữ nguyên luận cứ đối với các tình tiết giảm nhẹ chưa đúng với quy định pháp luật như đã trình bày, không tranh luận thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị V và bị hại Nguyễn Thị Bích T hợp lệ; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành kháng nghị đúng thẩm quyền và trong hạn luật định, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ để xác định:
Khoảng 16 giờ ngày 18/7/2022, bị cáo Nguyễn Thị V cùng với con trai là Nguyễn Văn C, đến nhà bà Nguyễn Thị Bích T dùng 2 khúc gỗ dài khoảng 0,7m đập phá các tài sản trong quán bán nước giải khát và dùng nhiều chai thủy tinh ném vào trong nhà bà T làm hư hỏng các tài sản của bà T và chị N với tổng giá trị thiệt hại theo kết luận định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự là 3.982.000 đồng. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị V và bị hại Nguyễn Thị Bích T, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[4.1] Về mức hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, đồng thời còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ nhận thức về hành vi, thực hiện với lỗi cố ý khi thấy C (con ruột bị cáo, là người chưa đủ 16 tuổi), cầm khúc gỗ sang nhà bà T, đáng lẽ bị cáo phải can ngăn, khuyên dạy con, nhưng bị cáo lại cùng C sang nhà bà T đập phá làm hư hỏng tài sản của bị hại; do đó hành vi của bị cáo cần được xử lý theo pháp luật.
[4.2] Kết luận định giá tài sản số 55/KL.HĐ ngày 26/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh An Giang đối với các tài sản thiệt hại là: 3.982.000đ; các tài sản này đã được lập tại biên bản kiểm tra, xác định tài sản thiệt hại của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ngày 18/7/2022 có sự tham gia của bà T, bảng kê khai tài sản bị thiệt hại ngày 18/7/2022 do bà T xác nhận ngoài những tài sản đã liệt kê thì không còn bị hư hỏng tài sản nào khác; đây là căn cứ để xác định tài sản thiệt hại cấu thành tội phạm theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, để xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo V.
Tuy nhiên, ngày 28/10/2023 bà T kê khai bổ sung các tài sản khác, tự định giá trị thiệt hại, chưa được cơ quan tiến hành tố tụng xác định do hành vi của bị cáo gây ra. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ phần tài sản liệt kê ngày 28/10/2023 xác định bị cáo là người gây thiệt hại đối với tổng giá trị tài sản bị hư hỏng là 10.957.000 đồng để lượng hình là không có căn cứ, gây bất lợi cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo V tự nguyện đồng ý bồi thường thiệt hại về tài sản với số tiền 10.957.000đ cho bị hại như bản án sơ thẩm tuyên, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.
[4.3] Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, bị cáo dùng tiền của mình và nhờ chồng là ông Nguyễn Văn S đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành để nộp tiền khắc phục hậu quả, việc Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng bị cáo chưa bồi thường khắc phục thiệt hại, không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không đúng pháp luật, gây bất lợi cho bị cáo. Bị cáo có cha ruột ông Nguyễn Văn L được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì; bị cáo đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này chưa được cấp sơ thẩm ghi nhận và nhận định trong bản án là có thiếu sót, để làm căn cứ áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có thiếu sót (mặc dù quyết định hình phạt có áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự).
[4.4] Việc cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự thì thấy, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội có đập hư hỏng tài sản của bị hại, nhưng cho rằng vì bị hại có hành vi gây hắng trước, không nhìn nhận việc làm của bản thân vi phạm pháp luật, không tỏ rõ sự ăn năn, hối hận luôn đỗ lỗi thế này thế nọ, quanh co đôi chối,... nên cấp sơ thẩm không cho hưởng tình tiết giảm nhẹ hình sự tại điểm s đối với bị cáo V là phù hợp.
Xét thấy, bị cáo Nguyễn Thị V đã chấp hành tốt chính sách, pháp luật, nghĩa vụ của công dân nơi cư trú; bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, có nơi cư trú rõ ràng; hiện bị cáo đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; nếu không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và phù hợp với tinh thần Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo; việc cho bị cáo hưởng án treo và thời gian thử thách tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt xã hội; kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.5] Yêu cầu tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị hại thì thấy, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xét xử bị cáo mức án 01 năm tù cho hưởng án treo là phù hợp, trình bày của bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là chưa đánh giá đầy đủ tính chất hành vi của người phạm tội.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại là 10.957.000 đồng và bị hại cũng đồng ý số tiền này như cấp sơ thẩm đã tuyên, nhưng bị hại yêu cầu bồi thường bằng hiện vật ban đầu, không phù hợp pháp luật, không đúng với tinh thần về trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo, không chấp nhận kháng cáo của bị hại.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo V có trách nhiệm bồi thường cho bị hại T và N tổng cộng 10.957.000đ (đã khắc phục được 3.000.000đ) nên còn phải bồi thường thêm số tiền 7.957.000đ, nên phải chịu 397.850đ án phí dân sự sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị P có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho bà Nguyễn Thị Bích T 1.800.000 đồng; do đó phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
[5.1] Án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo V được chấp nhận nên bị cáo V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bích T không được chấp nhận nên phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị V; không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị Bích T.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị V phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị V 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị V cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 30 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Các Điều 584, 585, 586 và 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị V có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho bị hại bà Nguyễn Thị Bích T với số tiền 8.907.000đồng.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị V có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho bị hại chị Nguyễn Thị Yến N với số tiền là 2.050.000đồng.
- Buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị P có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho bị hại bà Nguyễn Thị Bích T giá trị 03 cây xoài là 1.800.000đ (một triệu tám trăm ngàn đồng).
Tiếp tục quản lý số tiền 3.000.000đ của bị cáo V (do ông Nguyễn Văn S chồng nộp thay) theo Biên lai thu tiền số 0002353 ngày 01/7/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, để đảm bảo việc thi hành án.
3. Án phí:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
- Bị cáo Nguyễn Thị V phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 397.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Bị hại Nguyễn Thị Bích T phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004858 ngày 06/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang (đã nộp xong).
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm
không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật
kể từ ngày tuyên án./.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sơn |
Bản án số 151/2024/HS-PT ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 151/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thị V- Cố ý làm hư hỏng tài sản
