|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 151/2024/HS-ST. Ngày: 28-05-2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NΑΙ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Nam.
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Thu Phượng.
Bà Đỗ Thị Hồng Nhung.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo là thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hải- Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 05 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 111/2024/HSST ngày 09 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn K, sinh năm 1992 tại Kiên Giang; nơi đăng ký thường trú: Số B, tổ H, ấp T, xã P, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; nơi ở: ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Kim H; bị cáo có vợ và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị cáo bị giam giữ từ ngày 02/01/2024 đến nay. (Có mặt)
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Vương T1, sinh năm 1990, địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn K sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 10/2023. Khoản 17 giờ ngày 02/01/2024, đối tượng H1 (không rõ lai lịch) là bạn bè quen biết ngoài xã hội đến phòng trọ của K chơi, biết K sử dụng ma túy nên H1 nói sẽ liên hệ mua giùm cho K 200.000 đồng ma túy, K đồng ý. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, K điều khiển xe mô tô biển số 61F3-6601 đến điểm hẹn ở khu vực gầm cầu vượt đường V thuộc ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai gặp H1 để mua 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. K cất giấu gói ma túy vào bóp da màu đen, bỏ vào túi quần sau bên phải rồi điều khiển xe mô tô về phòng trọ ở đường B, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an xã B, huyện T bắt quả tang.
Thu giữ vật chứng gồm:
- 01 gói nilon màu trắng hàn kín hai đầu có kích thước 0,7cm x 4,4cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng.
- 01 bóp da màu đen bên trong có 190.000 đồng và 01 ĐTDĐ hiệu Samsung màu đen thu giữ của K. Do không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho K.
- 01 xe mô tô biển số 61F3-6601 mà bị cáo K sử dụng đi mua ma túy, chưa xác minh được chủ sở hữu.
Tại Kết luận giám định số: 22/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận: Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,1324 gam, loại: Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số: 109/CT-VKS-TB ngày 03 tháng 04 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị xử phạt Nguyễn Văn K từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; đề nghị tịch thu, tiêu hủy số ma túy được đựng trong 01 phong bì niêm phong sau giám định số 22/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ; buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với đối tượng tên H1 là người bán cho K ma túy, hiện nay không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong cáo trạng, nội dung phân tích, luận tội của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa và không có ý kiến bào chữa gì thêm. Đồng thời, trong lời nói sau cùng, bị cáo cũng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng và làm người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo và người tham gia tố tụng khác cung cấp là đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì về tính hợp pháp của các chứng cứ nên những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận: Vào khoảng 20 giờ 50 phút ngày 02/01/2024, tại đường số B thuộc ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì Công an xã B bắt quả tang K đang tàng trữ trái phép 0,1324 gam ma túy, loại: Methamphetamine. Sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Do muốn thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên bị cáo đã cố ý hành động phạm tội, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, hình phạt dành cho bị cáo phải nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo.
[5] Xử lý vật chứng:
[5.1] Tịch thu, tiêu hủy số ma túy được đựng trong 01 phong bì niêm phong sau giám định số 22/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ.
[5.2] Đối với 01 xe mô tô biển số 61F3-6601 mà bị cáo K sử dụng đi mua ma túy, chưa xác minh được chủ sở hữu, cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Về hành vi tố tụng, thẩm quyền tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Qua quá trình điều tra và truy tố, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2024.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy được đựng trong 01 phong bì niêm phong sau giám định số 22/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ (Số vật chứng này hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/04/2024).
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
* Nơi nhân:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Ngọc Nam |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đào Ngọc Nam
Bản án số 151/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 151/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 20 giờ 50 phút ngày 02/01/2024, tại đường số 28 thuộc ấp Tân Bình, xã Bình Minh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai thì Công an xã Bình Minh bắt quả tang Khanh đang tàng trữ trái phép 0,1324 gam ma túy, loại: Methamphetamine. Sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Do muốn thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên bị cáo đã cố ý hành động phạm tội, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn Khanh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
