Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2024/HSST

Ngày: 26-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tống Thị Kim Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Triệu Văn Giản

Bà Trần Thị Thanh Tâm

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành

phố Nam Định tỉnh Nam Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên

tòa: Ông Hoàng Tiến Nam - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 149/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H; sinh năm 1963; giới tính: Nam; nơi sinh: tỉnh Nam Định; căn cước công dân số [...]; nơi đăng ký thường trú: số B T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi ở: số C đường B, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 6/10; con ông: Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Phạm Thị H1 (đã chết); vợ Đặng Thị H2, sinh năm 1975; không có con; tiền án: Ngày 21/6/2022, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chấp hành xong hình phạt ngày 27/4/2023); tiền sự: không; nhân thân: ngày 12/02/1982, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 13 năm tù về tội Cướp tài sản của công dân; ngày 24/6/2015, Công an phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 10/10/2021, Công an phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; bị cáo bị tạm giam từ ngày 29-3-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Hạnh Q, sinh năm 1970; nơi cư trú: số A đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 26-3-2024, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18Z4 - 7222 đến khu vực Bệnh viện Phổi tỉnh N, địa chỉ A đường P, phường L, thành phố N tìm kiếm tài sản sở hở để trộm cắp. H dựng xe máy ngoài cổng Bệnh viện rồi đi bộ đến phòng 116 Khoa cấp cứu. Quan sát trong phòng không có người, trên giường bệnh của bà Nguyễn Thị Hạnh Q, sinh năm 1970, trú tại số A đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định có để 01 chiếc túi xách và một chiếc điện thoại Iphone, H tiến lại, lấy túi xách đeo vào cổ, trùm trong áo khoác đang mặc rồi lấy chiếc điện thoại cho vào túi quần, sau đó tẩu thoát theo lối cũ ra khỏi bệnh viện.

H điều khiển xe mô tô đi đường P ra đường N rồi dừng lại ở ngã ba song song với Quốc lộ A kiểm tra bên trong túi xách có nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 50.000 đồng. H lấy tiền, vứt bỏ túi xách rồi đi về phòng trọ của mình tại 33/183 đường B, phường L, thành phố N, đếm được số tiền 19.550.000 đồng gồm 38 tờ mệnh giá 500.000 đồng và 11 tờ mệnh giá 50.000 đồng. H cuộn tròn buộc 09 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng giấu trong bên trong giấy dán tường phòng trọ. H tiếp tục cuộn tròn, buộc 38 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng mang đến cất trong ba lô của mình gửi tại nhà chị gái là bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1953, trú tại số E V, phường L, thành phố N còn 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng H bỏ vào trong túi quần. Đối với chiếc điện thoại, H kiểm tra có mật khẩu, không mở được cũng không tắt nguồn được nên lấy túi ni lông bọc lại, dán băng dính, buộc dây chun rồi giấu ở vườn chuối đối diện phòng trọ của mình.

Sau khi phát hiện bị mất tài sản, bà Nguyễn Thị Hạnh Q đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N trình báo.

Căn cứ kết quả định vị tài khoản Icloud trên điện thoại, Cơ quan điều tra đã thu giữ bọc ni lông và chiếc điện thoại ở vị trí H cất giấu và thu được các dấu vết đường vân trên bọc ni lông và trên chiếc điện thoại. Bản kết luận giám định số ngày 653/KL-KTHS ngày 15-4-2024, Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Dấu vết đường vân trên là của Nguyễn Văn H.

Cơ quan điều tra thu được 23 đoạn video trích xuất từ camera tại hiện trường và các tuyến đường H di chuyển liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản nêu trên. Bản kết luận giám định số 835/KL-KTHS ngày 15-5-2024, Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép hay chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ 23 đoạn video đã thu giữ.

Ngày 27-3-2024, Cơ quan điều tra đã triệu tập được Nguyễn Văn H, H không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Cơ quan điều tra thu giữ của H 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng; 01 xe mô tô biển kiểm soát 18Z4 – 7222 và bộ T1 mặc ngày 26-3-2024. Sau khi Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thi hành lệnh bắt bị can để tạm giam, H đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản nêu trên, phù hợp với các tài liệu Cơ quan điều tra thu thập được.

Kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 29-3-2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận: Chiếc điện thoại di động Iphone 14 Promax là vật chứng trong vụ án trị giá 20.500.000 đồng.

Khám xét nơi ở của H, Cơ quan điều tra thu giữ 01 cuộn tiền polime buộc bằng dây chun bên trong giấy dán tường phòng trọ. Ngày 31-3-2024, anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1981, trú tại E V, phường L, thành phố N là cháu họ của H đã tự nguyện giao nộp 01 cuộn tiền buộc bằng dây chun nhặt được từ ba lô của H. Bản kết luận giám định số 691/KH-KTHS ngày 12-4-2024, Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện dấu vết đường vân trên toàn bộ số tiền đã thu giữ. Bản kết luận giám định số 953/KL-KTHS ngày 30-5-2024, Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Toàn bộ số tiền đã thu giữ đều là tiền thật.

Cơ quan điều tra truy tìm chiếc túi xách của bà Nguyễn Thị Hạnh Q nhưng không thu hồi được. Chiếc túi xách này đã cũ, giá trị không đáng kể nên bà Q đề nghị không định giá. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại và số tiền 19.550.000 đồng cho bà Q. Bà Q nhận lại và không có đề nghị khác

Bản cáo trạng số 151/CT-VKSND-TPNĐ ngày 09-7-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Văn H đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 30 tháng đến 33 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, án phí bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc áo khoác gió màu xanh than, 01 đôi giầy vải dạng giầy lười màu xanh than, đế giầy màu trắng, phía trên mũi giầy có hoa văn màu trắng, 01 chiếc quần dài vải kaki màu nâu vàng đều đã qua sử dụng. Một chiếc xe máy màu xanh, biển kiểm soát 18Z4 – 7222; số máy LC152FMH-0041396, số khung Y-1073896 không phải là công cụ, phương tiện trực tiếp bị cáo dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H trong quá trình điều tra và tại phiên toà, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, bản kết luận định giá tài sản số 18 ngày 29-3-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 18 giờ ngày 25-3-2024, tại phòng 116 Khoa cấp cứu Bệnh viện Phổi tỉnh N, địa chỉ số A đường P, phường L, thành phố N, Nguyễn Văn H đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax trị giá 20.500.000 đồng và số tiền 19.550.000 đồng của chị Nguyễn Thị Hạnh Q, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 40.050.000 đồng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ nhưng vẫn cố ý thực hiện, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi trộm cắp tài sản tương đối lớn, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đã rất nhiều lần bị kết án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Nguyễn Văn H không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại là bà Nguyễn Thị Hạnh Q đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất, đối với chiếc túi xách đã cũ, giá trị không đáng kể bà Q không có yêu cầu định giá và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên vấn đề dân sự đã được giải quyết xong. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: một chiếc áo khoác gió màu xanh than đã qua sử dụng, một đôi giầy vải dạng giầy lười màu xanh than, đế giầy màu trắng, phía trên mũi giầy có hoa văn màu trắng đã qua sử dụng, một chiếc quần dài vải kaki màu nâu vàng đã qua sử dụng đều không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Một chiếc xe máy màu xanh, biển kiểm soát 18Z4 – 7222; số máy LC152FMH-0041396, số khung Y-1073896 không phải là công cụ, phương tiện trực tiếp bị cáo dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

[7] Về vấn đề khác trong vụ án:

Anh Nguyễn Văn D và người nhà không biết nguồn gốc cuộn tiền 19.000.000 đồng là do Nguyễn Văn H trộm cắp được mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 năm 06 tháng (Hai năm sáu tháng) tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 29-3-2024.

  3. Biện pháp tư pháp:
  4. Tịch thu, tiêu hủy một chiếc áo khoác gió màu xanh than, một đôi giầy vải dạng giầy lười màu xanh than, đế giầy màu trắng, phía trên mũi giầy có hoa văn màu trắng, một chiếc quần dài vải kaki màu nâu vàng.

    Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 chiếc xe máy màu xanh, biển kiểm soát 18Z4 – 7222, số khung Y-1073896, số máy PMI-00413796 nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

    (chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 11-7-2024).

  5. Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Bị cáo Nguyễn Văn H được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là bà Nguyễn Thị Hạnh Q có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định;
  • - Công an TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2024/HSST ngày 26/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 151/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger