|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 151/2024/DS-ST Ngày: 26 - 04 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Nguyên, bà Lê Thị Thanh Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều D - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 119/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 03 năm 2024 về việc tranh chấp Hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 235/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 04 năm 2024, giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2. Địa chỉ: Số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Người đại điện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M, chức vụ Tổng Giám đốc, Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2.
Người đại diện theo ủy quyền:
Ông Lê Trung V, chức vụ Phó Tổng Giám đốc (Quyết định số 3366/QĐ-NHKL ngày 21/8/2023 v/v ủy quyền phê duyệt, thực hiện các thủ tục liên quan đến công tác xử lý nợ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2)
Ông Đinh Việt Q, chức vụ: Giám đốc Phòng xử lý nợ (Quyết định ủy quyền số 3368A/QĐ-NHKL ngày 21/8/2023 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2)
Người ủy quyền lại tham gia tố tụng: Ông Phạm Đông X, chức vụ: Chuyên viên Xử lý nợ - Phòng xử lý nợ - Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 (Quyết định số 3580/QĐ-NHKL ngày 11/9/2023 v/v ủy quyền thực hiện các công việc liên quan đến công tác xử lý nợ của Ngân hàng TMCP K2)
2.Bị đơn: Ông Phạm Nguyên P, sinh năm 1983; Bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1984; Cùng địa chỉ: Số B khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Phạm Văn K, sinh năm 1944;
3.2. Bà Nguyễn Thị Ngọc G, sinh năm 1956;
Cùng địa chỉ: Số B khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền cho bà G: Ông Phạm Nguyên P, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số B khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Theo giấy ủy quyền số 301, ngày 03/04/2024 do Văn phòng công chứng Huỳnh Minh H chứng thực.
3.3. Em Phạm Nguyên Q1, sinh năm 2007. Địa chỉ: Số B khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Em Q1 do ông P và bà L đại diện theo pháp luật).
(Các đương sự có yêu cầu vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/12/2023, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn do ông Phạm Đông X đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 05/07/2019 Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 (Ngân hàng) và ông Phạm Nguyên P và bà Nguyễn Thị Thúy L thỏa thuận ký kết hợp đồng tín dụng:
Hợp đồng tín dụng từng lần số 715/19/HĐTD/1200-0451 ngày 05/07/2019, số tiền vay 150.000.000 đồng, mục đích vay bổ sung vốn sửa chữa nhà ở; thời hạn vay 120 tháng; lãi suất cho vay 14.4%/năm, sẽ được điều chỉnh 03 tháng một lần và được tính bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 13 tháng lãnh lãi cuối kỳ của Ngân hàng tại thời điểm thay đổi lãi suất cộng (+) biên độ 4.3%/năm. Lãi suất ngay sau khi điều chỉnh không được thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu hiện hành tại Ngân hàng (cùng loại hình và phương thức cho vay). Lãi suất nợ quá hạn: bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Mức phạt chậm trả lãi 10%/năm. Hình thức thanh toán theo kỳ hạn trả lãi vay, nợ gốc và số nợ gốc phải trả mỗi kỳ được qui định cụ thể trên từng khế ước nhận nợ. Hợp đồng tín dụng nêu trên được bảo đảm bởi Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và/hoặc tài sản gắn liền với đất số 715/19/HĐTC-BĐS/1200-0451 ngày 05/07/2019 được công chứng tại Phòng C, tỉnh An Giang ngày 05/07/2019, tài sản thế chấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CK779047, số vào sổ: CS07647. Tổng diện tích: 116.3 m², mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị; thời hạn sử dụng lâu dài; thửa đất số 153, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Căn nhà ở (nhà ở số A) diện tích xây dựng 58.3 m², diện tích sàn: 121.1m², cấp 3B. Căn nhà ở (nhà ở số B) diện tích xây dựng 32 m², diện tích sàn: 32 m², cấp 4B do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 22/11/2017 do ông Phạm Nguyên P và bà Nguyễn Thị Thúy L1 đứng tên. Tài sản thế chấp nêu trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ chi nhánh L2 ngày 05/07/2019.
Trong quá trình vay vốn, ông Phạm Nguyên P và bà Nguyễn Thị Thúy L vi phạm nghĩa vụ trả nợ vốn, lãi theo hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở nhưng ông P và bà L không thực hiện. Tạm tính đến ngày 31/10/2023, ông P và bà L nợ tổng số tiền 105.875.188 đồng, vốn gốc 95.000.000đ; tiền lãi trong hạn 9.921.476đ; tiền lãi quá hạn 712.505đ; tiền phạt chậm trả lãi 241.207đ. Do đó, Ngân hàng khởi kiện ông P và bà L yêu cầu trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 31/10/2023 là 105.875.188 đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán dứt nợ. Yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp số 715/19/HDTC-BDS/1200-0451 ngày 05/07/2019 được ký kết giữa Ngân hàng với ông P và bà L. Trường hợp ông P và bà L không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận hoặc khi bản án có hiệu lực thì Ngân hàng yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng K2.
Theo tờ tự khai ngày 26/04/2024 ông Phạm Đông X đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng trình bày: Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông P và bà L có thanh toán số tiền vốn 1.250.000đ cho Ngân hàng nên số tiền vốn còn lại 93.750.000đ. Do đó, Ngân hàng rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền vốn 1.250.000đ đối với ông P và bà L; Ngân hàng chỉ yêu cầu số tiền vốn còn lại 93.750.000đ. Tổng số tiền ngân hàng yêu cầu ông P và bà L liên đới trách nhiệm trả nợ cụ thể: 109.037.672đ, trong đó tiền vốn còn lại 93.750.000đ, tiền lãi trong hạn 13.566.716đ, tiền lãi quá hạn 1.169.825đ, tiền lãi phạt chậm trả lãi 551.131đ (tạm tính đến ngày 26/04/2024).
Bị đơn ông Phạm Nguyên P và bà Nguyễn Thị Thúy L thống nhất yêu cầu của Ngân hàng, hiện gia hoàn cảnh gia đình khó khăn nên yêu cầu trả dần theo khả năng, ông P bà L không đưa ra yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn K1, bà Nguyễn Ngọc G trình bày theo bản khai ngày 05/04/2024 như sau: Ông bà đang sinh sống trên tài sản của ông Phạm Nguyên P và bà Nguyễn Thị Thúy L, ông bà không có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Do đó, yêu cầu vắng mặt trong toàn bộ quá trình hòa giải, xét xử của Tòa án.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn do ông Phạm Đông X đại diện theo ủy quyền, bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy L, ông Phạm Nguyên P; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Em Phạm Nguyên Q1 (do ông P, bà L đại diện); ông Phạm Văn K, bà Nguyễn Ngọc G đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách đương sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ các tình tiết, chứng cứ, lời trình bày của các đương sự trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 217, 244 BLTTDS đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với số tiền vốn 1.250.000 đồng do ngân hàng trình bày tại bản tự khai ngày 26/4/2024 rút một phần yêu cầu đối với số tiền này. Căn cứ các Điều 116, 117, 118, 119, 299, 303, 317, 318, 463, 466, 500, 501, 502 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 188 Luật Đất đai năm 2013, Nghị định 107/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với số tiền vốn 93.750.000 đồng, tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả tạm tính đến ngày 26/4/2024. Kể từ ngày 27/4/2024, ông P bà L phải thanh toán tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán dứt nợ. Duy trì hợp đồng thế chấp số 715/19/HĐTC-BĐS/1200-0451 ngày 05/07/2019 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K2 - Chi nhánh A với bà Nguyễn Thị Thúy L và ông Phạm Nguyên P. Trường hợp bà Nguyễn Thị Thúy L và ông Phạm Nguyên P không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền, phát mãi tài sản thế chấp để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng K2, tài sản bao gồm: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CK 779047, số vào số: CS07647. Tổng diện tích: 116.3 m², mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị; thời hạn sử dụng: lâu dài; thửa đất số: 153, tờ bản đồ số: 02. Tọa lạc tại: Phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Nhà ở 1: diện tích xây dựng: 58.3m², diện tích sàn: 121.1m², cấp (hạng): cấp IIIb. Nhà ở 2: diện tích xây dựng: 32m², diện tích sàn: 32m², cấp (hạng): cấp IVb. Do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh A cấp ngày 22/11/2017; đứng tên ông Phạm Nguyên P và bà Nguyễn Thị Thúy L.
Về án phí đương sự chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, theo quy định Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa các đương sự đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử là phù hợp quy định pháp luật.
[2] Về tư cách tham gia tố tụng:
[2.1] Theo đơn khởi kiện ngày 28/12/2023, Ngân hàng khởi kiện bị đơn ông P và bà L. Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, phát sinh các đương sự là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: ông Phạm Văn K, bà Nguyễn Thị Ngọc G, em Phạm Nguyên Q1 là con của ông P và bà L, do ông P và bà L đại diện theo pháp luật. Do việc giải quyết vụ án ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của các đương sự nêu trên nên Tòa án thông báo đưa vào tham gia vụ án là phù hợp quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.2] Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 ủy quyền cho ông Phạm Đông X - Chức vụ: Chuyên viên Xử lý nợ - Phòng xử lý nợ - Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 theo quyết định số 3580/QĐ-NHKL ngày 11/9/2023 v/v ủy quyền thực hiện các công việc liên quan đến công tác xử lý nợ của Ngân hàng. Xét nội dung việc ủy quyền phù hợp quy định tại Điều 562, Điều 563 Bộ Luật dân sự 2015 nên chấp nhận.
[3] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo nội dung đơn khởi kiện của Ngân hàng, tranh chấp về số tiền theo hợp đồng tín dụng từng lần số 715/19/HĐTD/1200-0451 ngày 05/07/2019, duy trì lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng và duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất. Xét, tranh chấp giữa các bên thuộc giao dịch dân sự. Bị đơn ông P và bà L cư trú tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang đã được thể hiện theo hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất. Do đó, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên và quan hệ pháp luật tranh chấp là hợp đồng vay tài sản để giải quyết theo quy định pháp luật.
[4] Về nội dung vụ án: Xét hợp đồng tín dụng từng lần số 715/19/HĐTD/1200-0451 ngày 05/07/2019 ông Phạm Nguyên P và bà Nguyễn Thị Thúy L là người ký tên vay với tư cách là bên vay của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 – Chi nhánh A. Việc ký kết hợp đồng, giao nhận tiền giữa các bên trên cơ sở tự nguyện, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp quy định tại Điều 116, 117, 118, 119 Bộ luật dân sự năm 2015 và phù hợp Điều 90, 91, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng là phù hợp quy định pháp luật.
[5] Đối với hợp đồng tín dụng từng lần số 715/19/HĐTD/1200-0451 ngày 05/07/2019. Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng và quá trình thực hiện hợp đồng, ông P và bà L vay số tiền 150.000.000đ, đã nhận đủ số tiền theo giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 715/KUNN, ngày 05/07/2019. Đến nay ông P và bà L chưa trả tiền nợ vốn, tiền lãi trong hạn và tiền lãi quá hạn theo thỏa thuận là vi phạm Điều 5, Hợp đồng tín dụng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông P và bà L đã trả số tiền vốn 1.250.000đ, số tiền vốn còn lại 93.750.000đ, phía Ngân hàng tự nguyện rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền vốn. Xét yêu cầu của Ngân hàng trên tinh thần tự nguyện, không bị ép buộc phù hợp quy định tại Điều 217, 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xem xét đình chỉ một phần yêu cầu của ngân hàng là phù hợp quy định pháp luật. Đối với ý kiến trình bày và yêu cầu của Ngân hàng, ông P và bà L đồng ý thanh toán số tiền vốn, lãi cho Ngân hàng nhưng hiện nay hoàn cảnh khó khăn. Theo yêu cầu của ông P, Ngân hàng không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét. Do đó, có căn cứ buộc ông P và bà L có nghĩa vụ liên đới trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền 109.307.672đ. Trong đó, tiền vốn 93.750.000đ, tiền lãi trong hạn 13.566.716đ, tiền lãi quá hạn 1.169.825đ, tiền lãi phạt chậm trả lãi 551.131đ tạm tính đến ngày 26/4/2024 là phù hợp quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015, Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 .
[6] Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất: Ngày 05/07/2019, Ngân hàng ký hợp đồng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 715/19/HĐTC-BĐS/1200-0451 với ông P và bà L. Theo hợp đồng ông bà thế chấp quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác số CS07647, do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh A cấp ngày 22/11/2017 mang tên ông Phạm Nguyên P và bà Nguyễn Thị Thúy L. Việc ký thế chấp có đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh L2 là phù hợp quy định tại Điều 317, Điều 327, Điều 500, Điều 502 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 715/19/HĐTC-BĐS/1200-0451 ngày 05/07/2019 ký kết giữa Ngân hàng với ông P, bà L có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành, cần duy trì để đảm bảo thi hành án thu hồi nợ cho Ngân hàng về sau nên được chấp nhận.
[7] Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc ông P và bà L liên đới trách nhiệm nộp 5.465.383đ tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Ngân hàng được nhận lại số tiền 2.647.000đ tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp theo biên lai thu số 0001636, ngày 01/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
[8] Về số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Áp dụng Điều 157, Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự buộc ông P và bà L liên đới trách nhiệm nộp số tiền 800.000đ tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền để hoàn trả cho Ngân hàng. Trả lại cho Ngân hàng số tiền 1.200.000đ, Ngân hàng do ông X là người đại diện theo ủy quyền đã nhận đủ theo biên bản quyết toán ngày 05/04/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Các Điều 116, 117, 118, 119, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 327, 463, 466, 468, 470, 500, 502, 562, 563 Bộ luật dân sự 2015;
Điều 90, 91, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68, Điều 70, Điều 74; Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 179, 217, 233, 238, 244, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật thi hành án dân sự.
- Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 đối với ông Phạm Nguyên P và bà Nguyễn Thị Thúy L.
Buộc ông Phạm Nguyên P và bà Nguyễn Thị Thúy L liên đới trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 nhận số tiền: 109.037.672đ. Trong đó, tiền vốn 93.750.000đ, tiền lãi trong hạn 13.566.716đ, tiền lãi quá hạn 1.169.825đ, tiền lãi phạt chậm trả 551.131đ (tạm tính đến ngày 26/4/2024) theo hợp đồng tín dụng từng lần số 715/19/HĐTD/1200-0451 ngày 05/07/2019.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 đối với ông Phạm Nguyên P và bà Nguyễn Thị Thúy L về yêu cầu ông Phạm Nguyên P và bà Nguyễn Thị Thúy L liên đới trách nhiệm trả số tiền vốn 1.250.000đ (một triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng).
Tiếp tục duy trì lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng từng lần số 715/19/HĐTD/1200-0451 ngày 05/07/2019 cho đến khi ông P và bà L trả dứt nợ cho Ngân hàng.
Kể từ ngày 27 tháng 04 năm 2023, ông Phạm Nguyên P và bà Nguyễn Thị Thúy L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, phí của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp bà Nguyễn Thị Thúy L và ông Phạm Nguyên P không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khi bản án có hiệu lực thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền, phát mãi tài sản thế chấp để thanh toán nợ cho Ngân hàng K2 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 715/19/HĐTC-BĐS/1200-0451 với bà Nguyễn Thị Thúy L và ông Phạm Nguyên P, tài sản bao gồm: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CK 779047, số vào số: CS07647. Tổng diện tích: 116.3 m², mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị; thời hạn sử dụng: lâu dài; thửa đất số: 153, tờ bản đồ số: 02. Tọa lạc tại: Phường M, Thành phố L, tỉnh An Giang. Nhà ở 1: diện tích xây dựng: 58.3m², diện tích sàn: 121.1m², cấp (hạng): cấp IIIb. Nhà ở 2: diện tích xây dựng: 32m², diện tích sàn: 32m², cấp (hạng): cấp IVb. Do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 22/11/2017; đứng tên ông Phạm Nguyên P và bà Nguyễn Thị Thúy L.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông P bà L. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán hết khoản nợ cho ngân hàng thì ông P bà L còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả hết nợ cho ngân hàng theo hợp đồng tín dụng từng lần số 715/19/HĐTD/1200-0451 ngày 05/07/2019.
Về án phí sơ thẩm:
Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 số tiền 2.647.000đ tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp theo Biên lai thu số 0001636, ngày 01/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Ông Phạm Nguyên P và bà Nguyễn Thị Thúy L liên đới trách nhiệm nộp 5.465.383đ tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền
Về chi phí tố tụng: Ông Phạm Nguyên P và bà Nguyễn Thị Thúy L liên đới trách nhiệm nộp số tiền 800.000đ để hoàn trả cho Ngân hàng tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2, do ông Phạm Đông X đại diện đã nhận đủ số tiền 1.200.000đ theo biên bản quyết toán ngày 05/04/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của các đương sự theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án dân sự)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Phương |
Bản án số 151/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 151/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HĐVTS
