Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

Bản án số: 151/2024/HS-ST

Ngày: 24/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Xuân Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nông Thị Duyên; nghề nghiệp: Hưu trí.
  • 2. Bà Nông Thị Thu Hương; nghề nghiệp: Giáo viên (Hiệu Trưởng trường Trung học cơ sở Ngọc Xuân, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng)

Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thuỳ Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Mạnh Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 136/2024/HSST ngày 10 tháng 09 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 230/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo:

Bế N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 09/02/2007 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Bế Dương D (Sinh năm 1983); Con bà: Vương Thị N (sinh năm 1984); Đều trú tại: Tổ A, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Anh chị em ruột: Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: chưa có.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vương Thị N - sinh 1984; Địa chỉ: Tổ A, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.

(Có mặt tại phiên toà)

- Người làm chứng:

  • 1. Đàm Minh Q – sinh 13/3/2008

Người đại diện hợp pháp: Đoàn Thanh D1 – sinh năm 1980

Đều có địa chỉ: Tổ C, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; (Vắng mặt tại phiên tòa)

- Người bào chữa cho bị cáo: Nông Thị Thu T - Trợ giúp viên pháp lý trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C; (có mặt tại phiên tòa)

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo:

Ông Bế Dương D

Bà Vương Thị N

Đều trú tại: Tổ A, phường N, thành phố C, Cao Bằng.

(Bà N có mặt, ông D vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 02/9/2023, Bế Nhật D2 (Sinh ngày: 09/02/2007; Trú tại: tổ A, phường N, thành phố C) gọi điện qua ứng dụng Messenger cho Đàm Minh Q (Sinh ngày 13/3/2008; Trú tại: Tổ C, phường N, thành phô Cao Bằng) rủ đi ăn trưa thì Q đồng ý. Sau đó, D2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 11B1 – 568.98 từ nhà đi đón Q. Khi D2 chở Q đi đến khu vực ngã tư N thuộc phường S, thành phố C thì thấy Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ nên đã điều khiển xe quay đầu đi về hướng phường S, thành phố C. Khi đến khu vực gần cầu H, cả hai không tìm được quán ăn nên D2 điều khiển xe quay lại, đi qua cầu B rồi rẽ trái đi vào phố đi bộ K thuộc tổ A, phường H, thành phố C. Khi đi đến đoạn đường phía trước chợ S thì D2 nói với Q “bám chắc vào” rồi gạt cần số xe về sau để giảm số từ số 4 về số 3 và thực hiện hành vi điều khiển xe mô tô chạy bằng một bánh với quãng đường khoảng 20m. Về phía Q, do đoạn đường này là khu vực đông dân cư, nhiều phương tiện di chuyển, Q không nghĩ rằng D2 sẽ thực hiện hành vi điều khiển xe mô tô chạy bằng một bánh đống với xe hai bánh, do bất ngờ nên Q chỉ kịp bám chặt hai tay vào eo của D2, do quán tính nên Q bị tụt người lại về phía đuôi xe. Sau đó, D2 điều khiển xe mô tô đi về hướng chùa P thuộc phường H thì bị Tổ công tác Phòng C Công an tỉnh C và Đ1, trật tự Công an thành phố C yêu cầu dừng xe, lập biên bản sự việc.

Trong quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ:

01 (một) một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha 110, màu xanh tím than, Biển kiểm soát 11B1 - 568.98; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 11000976 cấp ngày 20/12/2022 mang tên Vương Thị N.

Hành vi của Bế Nhật D2 đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại bản Cáo trạng số: 146/CT-VKSTP ngày 09/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Bế Nhật D2 về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo Bế Nhật D2 thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí kết luận giám định Kỹ thuật số điện tử số: 371/KL-KTHS ngày 25/06/2024 của Phòng C Công an tỉnh C.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác nhận đã nhận lại chiếc xe cùng giấy tờ xe. Không có ý kiến hay yêu cầu nào khác.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Bế Nhật D2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, xử phạt bị cáo B Nhật Duy từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng.

Luận cứ bào chữa của người bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát đề nghị, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh của bị cáo như: Bị cáo là người chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Hành vi của bị cáo không gây thiệt hại về vật chất. Lúc thực hiện hành vi phạm tội bị cáo không còn đi học, tuy nhiên hiện nay bị cáo đã thi và tiếp tục theo học trường trung học phổ thông Bế Văn Đ, với đề nghị hình phạt chính là hình phạt tù xét thấy đề nghị của kiểm sát viên là quá nặng so với hành vi của bị cáo và cũng gây ảnh hưởng tới việc học của bị cáo, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo với mức đề nghị phạt tiền là từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với luận cứ bào chữa của trợ giúp pháp lý, bị cáo mong muốn được giảm nhẹ hình phạt và được xử phạt tiền.

Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không có ý kiến gì tranh luận. Đề nghị Hội đồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được phạt tiền

Ý kiến của kiểm sát viên đối đáp với luận cứ bào chữa: Kiểm sát viên ghi nhận ý kiến bị cáo là người chưa thành niên, tuy nhiên tại phiên toà bị cáo khai nhận đã từng thực hiện nhiều lần hành vi trên. Đối với đề nghị áp dụng hình phạt tiền xét thấy bị cáo không có công việc ổn định, do vậy chưa đảm bảo khi áp dụng hình phạt tiền. Việc áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng không ảnh hưởng tới việc học của bị cáo và đây cũng là để răn đe giáo dục bị cáo.

Ý kiến của người bào chữa: Với đề nghị hình phạt tù cho hưởng án treo như đề nghị của kiểm sát viên xét thấy đến khi bị cáo học đến lớp 12 vẫn chưa chấp hành án xong dẫn đến đánh giá hạnh kiểm của bị cáo không tốt. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Việc đánh giá hạnh kiểm chỉ dựa trên kết quả học tập và quá trình chấp hành nội quy nhà trường của bị cáo. Kiểm sát viên giữ nguyên đề nghị.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh: Tại cơ quan điều tra cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với hành vi; lời khai của người làm chứng; bản kết luận giám định; vật chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định:

Ngày 02/9/2023, trên tuyến phố K, thuộc tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Bế Nhật D2 đã thực hiện hành vi điều khiển xe mô tô chạy bằng một bánh đối với xe hai bánh gây mất an toàn giao thông, do đây là khu vực đông dân cư, lượng xe tham gia giao thông đông đúc, gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Bế Nhật D2 về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4]. Về hình phạt chính: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo phạm tội lần đầu, hành vi phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng, bị cáo là người chưa thành niên, thể chất và nhận thức chưa phát triển đầy đủ, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn mà nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo. Bị cáo hiện nay còn đang đi học và có đi làm thêm, tuy nhiên bị cáo là người chưa thành niên công việc chính là đi học nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Bế Nhật D2.

[5]. Về xử lý vật chứng: Chiếc xe máy và giấy tờ xe đã được cơ quan điều tra trả lại cho người sở hữu hợp pháp, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6]. Đối với các vấn đề khác của vụ án:

Đối với Đàm Minh Q quá trình điều tra cũng đã xác định được khi thực hiện hành vi phạm tội Bế Nhật D2 không bàn bạc trước với Q về hành vi phạm tội, do vậy Q không phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của D2 gây ra.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha 110, màu xanh tím than, biển kiểm soát 11B1 - 568.98; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 11000976 cấp ngày 20/12/2022 mang tên Vương Thị N, quá trình điều tra xác định được việc bị cáo tự ý lấy chiếc xe đi sử dụng khi chưa có sự đồng ý của bà Vương Thị N và bà Vương Thị N cũng không biết được bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, do vậy bà Vương Thị N không phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của bị cáo.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Bế Nhật D2 phạm tội "Gây rối trật tự công cộng".
  2. Căn cứ: khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91, Điều 100 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xử phạt: Bị cáo Bế Nhật D2 06 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

    Giao bị cáo B Nhật Duy cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.

    Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng của bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  4. Xử buộc bị cáo Bế Nhật D2 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
  6. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những vấn đề có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - Công an tỉnh Cao Băng;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
  • - Công an TP Cao Bằng;
  • - Thi hành án DS TP Cao Bằng;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lý Xuân Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG về hình sự sơ thẩm về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 151/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bế Nhật Duy - Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger