Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2024/HS-ST

Ngày: 24/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Anh Tuấn.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Nguyễn Tuấn Anh
    • Bà Ngô Thị Yêm
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Yến - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Lê Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 148/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: NGUYỄN VĂN L2, sinh năm 1991; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố V, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Nơi ở: Số C ngách A, phố B, phường K, quận T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T và bà Vũ Thị T1; Có vợ: Cao Ngọc L1; Có 02 con; con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2024 đến nay - Có mặt.

  2. Họ và tên: PHẠM VĂN T3 sinh năm 1995; Nơi thường trú: Thôn H, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn T3 và bà Nguyễn Thị P; Có vợ: Nguyễn Thị H (đã lý hôn); Có 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2024 đến nay - Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Nguyễn Phú T4, sinh năm 2001; Nơi thường trú: Số H Tổ dân phố Đ, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng - Vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố V, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Nơi ở: Số C ngách A, phố B, phường K, quận T, thành phố Hà Nội - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 17 giờ 50 phút ngày 02/4/2024, Tổ công tác Công an xã V phối hợp Công an xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tại khu vực đường G thuộc thôn N, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội phát hiện Nguyễn Văn L2, Phạm Văn T3 và Nguyễn Phú T4 có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nên đã tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện và thu giữ của Nguyễn Văn L2 02 gói nilon đều có kích thước khoảng (8x5) cm, bên trong đều chứa các thảo mộc nghi là ma túy. Kiểm tra T3, T4 không phát hiện gì liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ vật chứng và đưa L2, T3 và T4 về trụ sở điều tra làm rõ.

Ngoài ra, cơ quan Công an còn thu giữ:

  • Của Nguyễn Văn L2: 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo Reno 2F bên trong lắp sim số thuê bao 0353440651; xe máy Honda Wave biển số 99S1-6677.
  • Của Phạm Văn T3: 01 điện thoại nhãn hiệu SamSung Galaxy.
  • Của Nguyễn Phú T4: 01 chiếc điện thoại vỏ bên ngoài có chữ “SamSung" bên trong lắp sim số thuê bao 0984384924 và 470.000đ.

Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã ra quyết định trưng cầu giám đinh. Ngày 17/5/2024, Phòng K, Công an thành phố H có bản Kết luận giám định số 3462/KL- KTHS, kết luận:

  • + Thảo mộc khô bên trong 02 túi nilon là ma túy loại ADB-BUTINACA, khối lượng 17,133 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 3462/KL-KTHS ngày 17/5/2024 của Phòng K, Công an thành phố H, kết luận:

  • + Hàm lượng chất ma túy ADB-BUTINACA là 0,9%.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn L2 và Phạm Văn T3 khai nhận: Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 02/4/2024, Nguyễn Phú T4 sử dụng tài khoản Zalo “Nguyễn Phú T4” liên lạc với tài khoản zalo “Hoàng Tần” của Phạm Văn T3 đặt mua 02 túi ma túy dạng thảo mộc Tobaco với giá 200.000 đồng/01 túi và hẹn giao dịch tại khu vực đường G thuộc thôn N, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội, tiền công giao hàng là 70.000 đồng, T3 đồng ý. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, T3 dùng tài khoản zalo “Hoàng T5” liên lạc với tài khoản zalo “Van Lluu" của Nguyễn Văn L2 đặt mua của L2 02 túi Tobaco với giá 120.000 đồng/01 túi, L2 đồng ý và hẹn giao hàng tại đường Đ, quận N, thành phố Hà Nội. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, L2 đi xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển số 99S1-6677 mang theo 02 túi ma túy cất trong ba lô để ở khung xe phía trước đến điểm hẹn gặp T3. Tại đây, T3 nói chưa có tiền và bảo Lưu chở T3 sang Đông A bán 02 túi ma túy cho T4 được tiền sẽ thanh toán cho L2, L2 đồng ý và giao xe cho T3 điều khiển chở L2 đến điểm hẹn với T4. Đến nơi, T3 thấy T4 đang đứng trên vỉa hè thì dừng xe đi đến vị trí của T4. Khi T3 vừa gặp T4 thì có lực lượng công an đến kiểm tra phát hiện, bắt giữ. Mục đích T4 đặt mua ma túy của T3 chỉ để sử dụng cho nhu cầu của bản thân ngoài ra không còn mục đích nào khác.

Nguyễn Văn L2 khai nhận: Thảo mộc khô bên trong 02 túi ni lông là T6, L2 đang cùng T3 mang đi chuẩn bị bán cho T4. Nguồn gốc số ma túy này là vào ngày 23/3/2024 L2 có lên mạng xã hội tìm trong các hội nhóm bán T6 (Lưu không nhớ tên mạng xã hội) và mua được 01 túi thảo mộc Tobaco của một người không quen biết với giá 1.200.000 đồng bằng hình thức giao dịch qua dịch vụ giao hàng. Sau khi mua được T6, Lưu chia ra 17 túi nhỏ để vừa sử dụng vừa bán cho khách mua với giá 120.000 đồng/01 túi, mỗi túi L2 được hưởng lợi tiền chênh lệch giữa giá mua và giá bán là 50.000 đồng. Từ ngày 23/3/2024 đến trước khi bị bắt L2 đã sử dụng hết 15 túi Tobaco. Ngày 02/4/2024 L2 bán 02 túi T6 cho T3 là lần đầu tiên L2 bán Tobaco.

Phạm Văn T3 khai nhận phù hợp với lời khai nhận của Nguyễn Văn L2. Bản thân T3 không biết bên trong thảo mộc Tobaco có chứa chất gì nhưng T3 đã từng sử dụng T6 bằng cách cho vào điếu thuốc lào hút và T3 biết hút Tó gây ảo giác, “phê pha” bị nhà nước cấm buôn bán, lưu hành. Mục đích T3 bán T6 cho T4 là để hưởng lợi 70.000 đồng tiền công và 160.000 đồng tiền chênh lệch giữa giá mua và giá bán. Ngày 02/4/2024 là lần đầu tiên T3 mua Tobaco của L2 và bán T6 cho T4.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển số 99S1-6677; SK: 008821; SM: 5011114 là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Văn T, bố đẻ Nguyễn Văn L2. Ngày 02/4/2024, Lưu mượn xe của ông T để đi, ông T không biết việc L2 đi bán ma tuý. Ngày 25/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe máy trên cho ông Nguyễn Văn T.

Đối với 01 phong bì niêm phong được dán kín bên trong có 13,071 gam mẫu thực vật (sợi thảo mộc màu nâu) còn lại sau giám định và các vỏ bao; 01 ba lô màu đỏ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu vỏ có chữ Oppo kèm sim; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy kèm sim; 01 chiếc điện thoại di động có logo S kèm sim và số tiền: 470.000 đồng tạm giữ của các bị cáo là vật chứng của vụ án, chuyển Tòa án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết theo thẩm quyền.

Cáo trạng số 145/CT-VKS-ĐA ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Nguyễn Văn L2 và Phạm Văn T3 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn L2 và Phạm Văn T3 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L2 mức án từ 32 tháng đến 36 tháng tù; xử phạt bị cáo Phạm Văn T3 mức án từ 28 tháng đến 32 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong được dán kín bên trong có 13,071 gam mẫu thực vật (sợi thảo mộc màu nâu) còn lại sau giám định và các vỏ bao; 01 ba lô màu đỏ. Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 03 điện thoại di động kèm sim và số tiền 470.000 đồng thu giữ của các bị cáo.

Lời nói sau cùng các bị cáo trình bày: Các bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Văn L2 và Phạm Văn T3 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của người mua ma túy là Nguyễn Phú T4; phù hợp Biên bản khám người theo thủ tục hành chính, Sơ đồ hiện trường, Kết luận giám định chất ma túy cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, bị cáo Nguyễn Văn L2 đã có hành vi bán trái phép 17,133 gam thảo mộc khô có chứa chất ma tuý loại ADB-BUTINACA cho Phạm Văn T3 sau đó khoảng 17 giờ 50 phút T3 điều khiển chở L2 đi cùng bán số ma tuý trên cho Nguyễn Phú T4 tại khu vực thôn N, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội thì bị phát hiện, bắt giữ quả tang. Do đó, hành vi mua bán trái phép 17,133 gam thảo mộc khô có chứa chất ma tuý loại ADB-BUTINACA của các bị cáo đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Nguyễn Văn L2 và Phạm Văn T3 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng người và đúng tội.

Nội dung điều luật quy định:

  1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự; Về nhân thân: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự nên được xác định là có nhân thân tốt.

[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện, tạo ảo giác, khiến người sử dụng không kiểm soát được bản thân, gây nguy hiểm đến tính mạng và sức khoẻ của người sử dụng, làm lây lan các căn bệnh xã hội nguy hiểm và là nguyên nhân phát sinh một số loại tội phạm. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự nhưng do tham lam tư lợi, các bị cáo vẫn cố ý phạm tội nên cần xét xử nghiêm các bị cáo theo quy định của pháp luật hình sự, cần xử phạt các bị cáo hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và có tác dụng phòng ngừa tội phạm ma túy nói riêng và các tội phạm khác nói chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã xem xét đầy đủ về vai trò, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo; về loại ma túy, hàm lượng chất ma tuý các bị cáo mua bán; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo được hưởng và nhân thân hoàn cảnh gia đình của từng bị cáo trong vụ án để giảm nhẹ một phần hình phạt và cá thể hóa hình phạt đối với mỗi bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo L2 là người bán ma túy cho T3, sau đó cho T3 mượn xe đi cùng T3 bán số ma tuý trên cho T4 tuy không đủ yếu tố cấu thành việc mua bán nhiều lần nhưng thể hiện tính chất nghiêm trọng hơn nên phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo T3.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển số 99S1-6677; SK: 008821; SM: 5011114 là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Văn T, bố đẻ bị cáo Nguyễn Văn L2. Ngày 02/4/2024, Lưu mượn xe của ông T để đi, ông T không biết việc L2 đi bán ma tuý. Ngày 25/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe máy trên cho ông Nguyễn Văn T là có căn cứ. Đối với 01 phong bì niêm phong được dán kín bên trong có 13,071 gam mẫu thực vật (sợi thảo mộc màu nâu) còn lại sau giám định và các vỏ bao, 01 ba lô màu đỏ là chất cấm lưu hành và công cụ phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với 03 điện thoại di động kèm sim và số tiền 470.000 đồng thu giữ của các bị cáo và người mua ma tuý là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn L2 và Phạm Văn T3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  • - Căn cứ vào: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
  • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L2 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2024.
  • Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T3 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2024.
  • Căn cứ vào: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
  • Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong được dán kín bên trong có 13,071 gam mẫu thực vật (sợi thảo mộc màu nâu) còn lại sau giám định và các vỏ bao, 01 ba lô màu đỏ có đặc điểm, tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/7/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
  • Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu vỏ có chữ Oppo kèm sim, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy kèm sim và 01 chiếc điện thoại di động có logo Samsung kèm sim có đặc điểm, tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/7/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
  • Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 470.000 đồng (bốn trăm bảy mươi nghìn đông) theo Uỷ nhiệm chi ngày 10/7/2024 của Công an huyện Đ vào tài khoản số 3949.0.1047882.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh tại Kho bạc nhà nước huyện Đ.
  • Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn L2 và Phạm Văn T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - Công an huyện Đông Anh;
  • - Chi cục THADS huyện Đông Anh;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Anh Tuấn

(Đã ký)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 151/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L2 và đồng phạm - Tội mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger