|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐĂK LĂK Bản án số: 151/2024/HNGĐ–ST Ngày: 23 – 8 – 2024 V/v tranh chấp ly hôn và con chung |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
– Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Cúc
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hữu Long
- Bà Nguyễn Thị Loan
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Phan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.
– Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Phạm Việt Bắc – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án – Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 458/2024/TLST–HNGĐ, ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 109/2024/QĐST – HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Ngô Việt P sinh năm 1982
- Bị đơn: Bà Trần Thị Nhã U sinh năm 1986
Nơi ĐKHKTT: 11 T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
Chỗ ở hiện nay: B H, phường D, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: 11 Tán Thuật, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Địa chỉ: 515/16 Hà Huy Tập, TDP 8, phường Tân Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
– Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án – Nguyên đơn, ông Ngô Việt P trình bày:
Năm 2015, ông P và bà Trần Thị Nhã U đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 173, quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân phường T, Thành phố B, Đ cấp ngày 10/11/2015).
Sau khi kết hôn và chung sống với nhau một thời gian, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, hai bên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và tranh cãi. Nhiều lần ông bà cố gắng giải quyết những mâu thuẫn nhưng vẫn không tìm được tiếng nói chung, thậm chí mâu thuẫn của hai bên càng trở nên trầm trọng, gay gắt. Ông P và vợ sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Mục đích hôn nhân của hai bên không đạt được. Ông P nhận thấy việc tiếp tục chung sống cùng nhau sẽ ảnh hưởng đến công việc, sức khỏe và tâm lí của hai bên. Do đó ông P đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà U.
Trong quá trình chung sống, ông P và bà U có 01 (một) người con chung là cháu Ngô Hoàng Q (sinh ngày 24/5/2016) (Theo bản sao Trích lục khai sinh số 105/TLKS–BS của UBND phường T, Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 06/02/2020).
Theo yêu cầu khởi kiện, ông P yêu cầu được ly hôn với bà U và yêu cầu được nuôi con chung là cháu Ngô Hoàng Q với những lí do sau:
Bà U không đảm bảo được thời gian để chăm sóc cháu Ngô Hoàng Q:
Trong quá trình chung sống, bà U nhiều lần đi sớm về khuya, không đảm bảo thời gian chăm sóc con. Thậm chí bà U đã từng dọn ra khỏi nhà và đi một khoảng thời gian dài, làm cho cháu Q bị ảnh hưởng rất lớn về tâm lý, gây khủng hoảng tinh thần của cháu Q, ảnh hưởng đến việc học hành và sinh hoạt của cháu. Trong khoảng thời gian đó, ông và mẹ ông là người chăm sóc cháu, động viên tinh thần cho cháu, trấn an tâm lý của cháu.
Trước đây, bà U chung sống cùng với ông tại căn nhà do mẹ ông đứng tên sở hữu và bà U không có bất kỳ một căn nhà hay tài sản nào khác. Hiện nay, bà U đã dọn ra khỏi căn nhà nêu trên và thuê trọ để cư trú. Có thể thấy, bà U không có nơi cư trú ổn định sau ly hôn để đảm bảo các yêu cầu về vật chất, các điều kiện về trật tự an ninh xã hội để cho cháu phát triển, sinh hoạt bình thường, đặc biệt là đối với một cậu bé bị ảnh hưởng tâm lý nặng nề như cháu Q.
Có thể thấy, từ điều kiện về vật chất lẫn tinh thần thì bà U không đủ tư cách, không đủ đạo đức, không phù hợp để nuôi dưỡng cháu Q phát triển trong môi trường giáo dục tốt, không đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh trong quá trình trưởng thành của cháu. Việc giao cháu Q cho bà U nuôi dưỡng sẽ ảnh hưởng đến
tâm lý, tinh thần và sinh hoạt, nhất là trong giai đoạn cháu đang phát triển về các mặt tâm sinh lý, giai đoạn cháu đang dần hòa nhập với cộng đồng, có sự tiến triển về sức khỏe để có thể phát triển bình thường như các bạn đồng trang lứa khác.
Kể từ thời điểm ly thân, bà U thường xuyên bỏ nhà đi không lí do, có thời điểm bà U đi hơn một tháng, việc nuôi dưỡng, chăm sóc cháu đều do mẹ của ông (bà nội của cháu Q) đảm nhận.
Không những thế, cháu Q là đứa trẻ không may mắn, khuyết tật, tâm lý không ổn định nên việc bà U bỏ nhà đi trong một khoảng thời gian dài không chăm sóc, quan tâm, đồng hành cùng cháu Q gây ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần của cháu Q, khiến cho bệnh tình của cháu ngày càng tệ hơn. Do đó, khi cháu đã quen thuộc với môi trường xung quanh, quen thuộc với cô giáo và các bạn trong trường cũng như quen thuộc với sự chăm sóc của bà nội cháu nên về thay đổi chỗ ở, thay đổi người chăm lo, trường học cho cháu sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý, sức khỏe và sự phát triển của cháu. Cháu Hoàng Q năm nay đã 8 tuổi nhưng lại chậm nói và kém phát triển hơn những bạn đồng trang lứa, thường xuyên bị bệnh do thiếu sự quan tâm, chăm sóc từ mẹ thậm chí là cháu được sự chuẩn đoán của Trung tâm giám định y khoa về tâm lý là cháu bị bệnh tâm thần.
Do đó ông P yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được nuôi cháu để đảm bảo cho cháu có sự phát triển ổn định, toàn diện về mặt thể chất lẫn tinh thần của cháu.
Bà U không có thu nhập ổn định để nuôi dưỡng cháu Q:
Hiện nay, bà U không có nơi ở ổn định, không có việc làm cố định, phụ thuộc phần lớn vào công việc tự do, không làm gì để có thể tạo ra được thu nhập đủ để có thể nuôi sống bản thân và chăm lo cho cháu Q một cách tốt nhất. Từ khi ông bà kết hôn, bà U đã không còn đi làm, phần lớn chi phí sinh hoạt và chăm lo cho cháu Q đều do ông gánh vác và sự hỗ trợ của bà nội.
Thứ ba, về yêu cầu cấp dưỡng cho cháu Ngô Hoàng Q: Ông Phương tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Bị đơn bà Trần Thị Nhã U: Tòa án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng bà U vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột trình bày:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của ông Ngô Việt P. Về quan hệ hôn nhân: Ông Ngô Việt P được ly hôn với bà Trần Thị Nhã U. Về con chung: Giao cháu Ngô Hoàng Q sinh ngày 24/5/2016 cho cha là ông Ngô Việt P chăm sóc nuôi dưỡng tới tuổi trưởng thành. Bà Trần Thị Nhã U được quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng, về tài sản
chung và nợ chung tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Ngô Việt P tranh chấp ly hôn và con chung với bà Trần Thị Nhã U, địa chỉ cư trú tại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn và con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn bà Trần Thị Nhã U đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Nguyên đơn ông Ngô Việt P có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Ngô Việt P và bà Trần Thị Nhã U tự nguyện tìm hiểu, đủ điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 10/11/2015 tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở tự nguyện nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Ông Ngô Việt P và bà Trần Thị Nhã U đã chung sống hạnh phúc một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Hiện nay ông P xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đã nộp đơn đề nghị giải quyết xin ly hôn với bà U. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà U vẫn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương. Đại diện chính quyền địa phương cho biết: “Về mâu thuẫn giữa hai vợ chồng thì chính quyền địa phương không nắm được vì vợ chồng không làm thủ tục hòa giải tại địa phương”.
Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, việc bà Trần Thị Nhã U không đến tham gia vào các buổi hòa giải và phiên xét xử của Tòa, đã thể hiện việc bà U không có ý định hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này, từ đó cho thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của ông Ngô Việt P, cho ông P được ly hôn với bà Trần Thị Nhã U.
[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống ông Ngô Việt P và bà Trần Thị Nhã U có 01 con chung là cháu Ngô Hoàng Q sinh ngày 24/5/2016. Hiện cháu đang sống cùng với cha là ông Ngô Việt P nên ông P có nguyện vọng được trực
tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành. Trong quá trình giải quyết vụ án bà U không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện về ly hôn cũng như về việc nuôi con chung. Nên Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của ông Ngô Việt P về việc được nuôi cháu là phù hợp với thực tế và đảm bảo được quyền và lợi ích của con chung nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung là cháu Ngô Hoàng Q sinh ngày 24/5/2016 cho cha là ông Ngô Việt P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ.
[2.3] Về cấp dưỡng: Ông Ngô Việt P và bà Trần Thị Nhã U tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Ngô Việt P và bà Trần Thị Nhã U tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn ông Ngô Việt P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định, bị đơn bà Trần Thị Nhã U không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ: Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ: Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTV QH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Việt P
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Ngô Việt P được ly hôn với bà Trần Thị Nhã U.
- Về con chung:
- Về cấp dưỡng: Ông Ngô Việt P và bà Trần Thị Nhã U tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Giao cháu Ngô Hoàng Q sinh ngày 24/5/2016 cho cha là ông Ngô Việt P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
Bà Trần Thị Nhã U được quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông Ngô Việt P và bà Trần Thị Nhã U tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Ông Ngô Việt P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí mà Ngô Tấn P1 nộp thay Ngô Việt P đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2023/0010071 ngày 15/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.
Về quyền kháng cáo:
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Kim Cúc |
Bản án số 151/2024/HNGĐ–ST ngày 23/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK về tranh chấp ly hôn và con chung
- Số bản án: 151/2024/HNGĐ–ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn và con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Việt P xin ly hôn với Trần Thị Nhã U
