Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2023/HS-ST

Ngày: 21 - 12 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Phạm Thị Liễu.
  • 2. Ông Phan Thành Đông.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 158/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

Phạm Hữu M – sinh năm: 1988, tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký thường trú: Thôn D, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Thợ cơ khí; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Hữu T – 1960 và bà Trương Thị H – 1960; Vợ: Hà Thị Q – 1993; Có 02 con: Lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Hiện đang tại ngoại. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Vương Nhật Khánh T1 – sinh năm: 1983. (vắng mặt)
    Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai
  • + Chị Đoàn Thị Diệu H1 – sinh năm: 1985. (vắng mặt)
    Địa chỉ: ấp S, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
  • + Bà Kim Thị Thanh X – sinh năm: 1974. (vắng mặt)
    Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • + Bà Nguyễn Thị M1 – sinh năm: 1965. (vắng mặt)
    Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • + Bà Nguyễn Thị Cẩm V – sinh năm: 1977. (vắng mặt)
    Địa chỉ: Khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • + Chị Phan Thị Bích T2 – sinh năm: 1986. (vắng mặt)
    Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • + Bà Trương Quang Ngọc C – sinh năm: 1981. (vắng mặt)
    Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • + Chị Nguyễn Thị T3 – sinh năm: 1989. (vắng mặt)
    Địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • + Bà Nguyễn Thị Kim O – sinh năm: 1978. (vắng mặt)
    Địa chỉ: Khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • + Ông Cao Đức T4 – sinh năm: 1974. (vắng mặt)
    Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • + Chị Trần Hoàng O1 – sinh năm: 1986. (vắng mặt)
    Địa chỉ: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • + Bà Trần Thị Mỹ H2 – sinh năm: 1982. (vắng mặt)
    Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Người làm chứng:

  • + Anh Nguyễn Văn B – sinh năm: 1991. (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  • + Chị Hồ Cẩm H3 – sinh năm: 1987. (vắng mặt)
    Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ khoảng đầu tháng 4/2022 đến tháng 8/2022, Phạm Hữu M thực hiện việc cho những người dân trên địa bàn có nhu cầu vay tiền với lãi suất cao. Cách thức cho vay của M là khi có người vay tiền thì M sẽ đến gặp và thỏa thuận về lãi suất, tiền phí làm hồ sơ. Mừng thường cho người khác vay tiền với mức lãi suất 10.000đ/1.000.000đ/01 ngày, phí vay tiền là 50.000đ/1.000.000đ tiền gốc vay. Mừng đã cho những người sau đây vay tiền, cụ thể:

  • - Bà Vương Nhật Khánh T1 vay của M số tiền 15.000.000đ, thỏa thuận vay trong 25 ngày, lãi suất 10.000đ/1.000.000đ/01 ngày, thu phí vay tiền 750.000đ. Bà T1 đã trả lãi và phí 1.350.000đ trong thời gian 04 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 04 ngày là 32.877đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 1.317.123đ.
  • - Chị Đoàn Thị Diệu H1 vay của M 03 lần, mỗi lần 5.000.000đ, thỏa thuận vay trong 25 ngày, lãi suất 10.000đ/1.000.000đ/01 ngày, thu phí vay tiền mỗi lần 300.000đ. Lần vay thứ nhất: Chị H1 đã trả lãi và phí 1.550.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 68.493đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 1.481.507đ. Lần vay thứ hai và thứ ba đều tương tự lần vay thứ nhất, M đã thu lợi bất chính mỗi lần số tiền là 1.481.507đ. Tổng 03 lần vay, M thu lợi bất chính số tiền 4.444.521đ.
  • - Bà Kim Thị Thanh X vay của M 04 lần, mỗi lần 5.000.000đ, thỏa thuận vay trong 25 ngày, lãi suất 10.000đ/1.000.000đ/01 ngày, thu phí vay tiền mỗi lần 250.000đ. Lần vay thứ nhất, bà X đã trả lãi và phí 1.500.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 68.493đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 1.431.507đ. Ở lần vay thứ hai và thứ ba đều tương tự lần vay thứ nhất, M đã thu lợi bất chính mỗi lần số tiền là 1.431.507đ. Lần vay thứ tư, bà X đã trả lãi và phí 1.000.000đ trong thời gian 15 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 15 ngày là 41.096đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 958.904đ. Tổng 04 lần, M thu lợi bất chính số tiền 5.253.425đ.
  • - Bà Nguyễn Thị M1 vay của M số tiền 5.000.000đ, thỏa thuận vay trong 25 ngày, lãi suất 10.000đ/1.000.000đ/01 ngày, thu phí vay tiền 300.000đ. Bà M1 đã trả lãi và phí 1.200.000đ trong thời gian 18 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 18 ngày là 49.315đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 1.150.685đ.
  • - Bà Nguyễn Thị Cẩm V vay 05 lần, mỗi lần 5.000.000đ, thỏa thuận vay trong 25 ngày, thu phí vay tiền mỗi lần 300.000đ. Lần vay thứ nhất, bà V đã trả lãi và phí 1.550.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 68.493đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 1.481.507đ. Lần vay thứ hai, thứ ba, thứ tư đều tương tự lần vay thứ nhất, mỗi lần M đã thu lợi bất chính số tiền là 1.481.507đ. Lần vay thứ năm, bà V đã trả lãi và phí 650.000đ trong thời gian 07 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 07 ngày là 19.178đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 630.822đ. Tổng cộng 05 lần, M thu lợi bất chính số tiền 6.756.849đ.
  • - Chị Phan Thị Bích T2 vay 10 lần, mỗi lần 10.000.000đ, thỏa thuận vay trong 25 ngày, thu phí vay tiền mỗi lần 500.000đ. Lần vay thứ nhất, chị T2 đã trả lãi và phí 3.000.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 136.986đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 2.863.014đ. Các lần vay thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm tương tự lần vay thứ nhất, mỗi lần M đã thu lợi bất chính số tiền là 2.863.014đ. Lần vay thứ sáu, chị T2 đã trả lãi và phí 1.900.000đ trong thời gian 14 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 14 ngày là 76.712đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 1.823.288đ. Lần vay thứ bảy, T2 đã trả lãi và phí 1.700.000đ trong thời gian 12 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 12 ngày là 65.753đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 1.634.247đ. Lần vay thứ tám, chị T2 đã trả lãi và phí 900.000đ trong thời gian 04 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 04 ngày là 21.918đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 878.082đ. Lần vay thứ chín, chị T2 đã trả lãi và phí 1.700.000đ trong thời gian 12 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 12 ngày là 65.753đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 1.634.247 đ. Lần vay thứ mười, chị T2 đã trả lãi và phí 1.100.000đ trong thời gian 06 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 6 ngày là 32.877đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 1.067.123đ. Tổng cộng 10 lần, M thu lợi bất chính số tiền 21.352.055đ.
  • - Bà Trương Quang Ngọc C vay 05 lần, mỗi lần 10.000.000đ, thỏa thuận vay trong 25 ngày, thu phí vay tiền mỗi lần 1.000.000đ. Các lần vay thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư, bà C đều đã trả lãi và phí 3.500.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 136.986đ. Mỗi lần, M đã thu lợi bất chính số tiền là 3.363.014đ. Lần vay thứ năm, bà C đã trả lãi và phí 2.000.000đ trong thời gian 10 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 10 ngày là 54.795đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 1.945.205đ. Tổng 05 lần, M đã thu lợi bất chính số tiền là 15.397.260đ.
  • - Chị Nguyễn Thị T3 vay 02 lần, mỗi lần 5.000.000đ, thỏa thuận vay trong 25 ngày, thu phí vay tiền mỗi lần 300.000đ. Lần vay thứ nhất, chị T3 đã trả lãi và phí 1.550.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 68.493đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 1.481.507đ. Lần vay thứ hai, chị T3 đã trả lãi và phí 700.000đ trong thời gian 08 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 08 ngày là 21.918đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 678.082đ. Tổng 02 lần, M đã thu lợi bất chính số tiền là 2.159.589đ.
  • - Bà Nguyễn Thị Kim O vay 02 lần, mỗi lần 3.000.000đ, thỏa thuận vay trong 17 ngày. Lần vay thứ nhất, bà O đã trả lãi 400.000đ trong thời gian 17 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 14,31 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 17 ngày là 27.945đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 372.055đ. Lần vay thứ hai, bà O đã trả lãi 282.353đ trong thời gian 12 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 14,31 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 12 ngày là 19.726đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 262.627đ. Tổng 02 lần, M đã thu lợi bất chính số tiền là 634.682đ.
  • - Ông Cao Đức T4 vay số tiền 5.000.000đ, thỏa thuận vay trong 25 ngày, thu phí vay tiền 250.000đ. Ông T4 đã trả lãi và phí 1.500.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 68.493đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 1.431.507đ.
  • - Chị Trần Hoàng O1 vay 03 lần, mỗi lần 5.000.000đ, thỏa thuận vay trong 21 ngày. Lần vay thứ nhất, chị O1 trả phí vay tiền 300.000đ, chị O1 đã trả lãi và phí 1.600.000đ trong thời gian 21 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 22,60 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 21 ngày là 57.534đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 1.542.466đ. Lần vay thứ hai, chị O1 đã trả lãi 1.300.000đ trong thời gian 21 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 22,60 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 21 ngày là 57.534đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 1.242.466đ. Lần vay thứ ba, chị O1 đã trả lãi 804.762đ trong thời gian 13 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 22,60 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 13 ngày là 35.616đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 769.145đ. Tổng 03 lần, M đã thu lợi bất chính số tiền là 3.554.077đ.
  • - Bà Trần Thị Mỹ H2 vay 02 lần, mỗi lần 5.000.000đ, thỏa thuận vay trong 25 ngày, thu phí vay tiền mỗi lần 800.000đ. Lần vay thứ nhất, bà H2 đã trả lãi và phí 2.050.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 68.493đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 1.981.507đ. Lần vay thứ hai, bà H2 đã trả lãi và phí 1.800.000đ trong thời gian 20 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 20 ngày là 54.795đ. M đã thu lợi bất chính số tiền là 1.745.205đ. Tổng 02 lần, M đã thu lợi bất chính số tiền là 3.726.712đ.

Như vậy, với việc cho 12 người vay tiền nói trên, Phạm Hữu M đã có hành vi cho vay trong giao dịch dân sự với lãi suất gấp từ 14,31 đến 22,60 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính với tổng số tiền là 67.178.485đ.

Về vật chứng của vụ án:

  • + Số tiền 1.000.000đ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia bàn phím màu đen, hiện đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú.
  • + Những đồ vật, tài sản, tài liệu khác không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Hữu M đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình theo đúng nội dung vụ án nêu trên.

Bản cáo trạng số 101/CT-VKSTP-ĐN ngày 06 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Phạm Hữu M về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai giữ quyền công tố luận tội và tranh luận; phân tích dấu hiệu phạm tội; đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của bị cáo. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Hữu M về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 201, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề xuất mức án đối với bị cáo Phạm Hữu M từ 70.000.000đ đến 80.000.000đ.

Về biện pháp tư pháp:

  • - Đề nghị buộc bị cáo nộp lại để sung ngân sách Nhà nước số tiền gốc bị cáo đã cho 12 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vay là 70.700.000đ và số tiền lãi hợp pháp (20%/năm) là 2.858.630đ vì đây phương tiện phạm tội và khoản tiền phát sinh từ tội phạm.
  • - Đề nghị buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp lại số tiền gốc chưa thanh toán là 47.300.000đ để sung ngân sách Nhà nước vì đây phương tiện phạm tội.
  • - Đề nghị buộc bị cáo trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền lãi suất vượt quá 20%/năm theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự là 67.178.485đ vì đây là tiền bị cáo chiếm đoạt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000đ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia bàn phím màu đen. Xét đây là tài sản của bị cáo và là phương tiện dùng vào việc phạm tội.

Những vấn đề khác:

  • + Quá trình điều tra xác định được, Phạm Hữu M cho chị Nguyễn Thị N vay tiền. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chị N không có mặt tại địa phương nên không làm rõ được nội dung nêu trên.
  • + Quá trình điều tra xác định được, Phạm Hữu M cho một số người dân trên địa bàn vay tiền nhưng không rõ nhân thân lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.
  • + Quá trình điều tra xác định trong việc Phạm Hữu M có cho chị Phan Thị Bích T2 vay tiền 10 lần vay thì có 02 lần là do chị Hồ Cẩm H3 đứng ra vay giùm. Về lãi suất, tiền trả lãi, gốc đều do chị T2 trực tiếp trả cho M.
  • + Quá trình điều tra xác định được, Phạm Hữu M cho bà Nguyễn Thị M1 vay tiền thì có Nguyễn Văn B đi cùng. Tuy nhiên, qua điều tra xác định được B chỉ đi theo M lấy tiền góp 02 lần của bà Nguyễn Thị M1 với số tiền thu lợi bất chính là 1.150.685đ. B không bàn bạc trước, không thỏa thuận với M về số tiền cho vay, lãi suất cho vay đối với những người khác nên chưa đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với B.

Bị cáo nói lời sau cùng như sau: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Hữu M thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định:

Từ tháng 4/2022 đến tháng 8/2022, tại huyện T, tỉnh Đồng Nai, Phạm Hữu M đã có hành vi cho vay trong giao dịch dân sự với lãi suất gấp từ 14,31 đến 22,60 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính với tổng số tiền là 67.178.485đ.

Hành vi do bị cáo Phạm Hữu M đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, nó trực tiếp xâm hại đến chế độ quản lý của Nhà nước về tín dụng. Bị cáo thực hiện hành vi trên với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Do đó bị cáo đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Mặc dù biết việc cho vay lãi nặng là trái pháp luật, là gây thiệt hại cho người vay bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng vì động cơ tư lợi mà không phải thông qua lao động chân chính, lợi dụng việc người đi vay tiền đang gặp hoàn cảnh khó khăn cần tiền gấp để giải quyết một số việc trong cuộc sống, ép những người vay tiền phải chịu mức lãi suất thật cao. Hành vi của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về tín dụng mà còn gây thiệt hại tài sản của những người vay tiền, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6]. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[7]. Về hình phạt:

[7.1]. Về hình phạt chính:

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy không nhất thiết phải áp dụng các hình phạt tù cho bị cáo mà áp dụng hình phạt tiền để sung vào Ngân sách Nhà nước cũng thỏa đáng, đủ tác dụng răn đe.

[7.2]. Về hình phạt bổ sung:

Vì bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính bằng hình thức phạt tiền nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8]. Về các biện pháp tư pháp:

  • - Đối với số tiền gốc bị cáo đã cho 12 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vay thực tế là 118.000.000đ. Tuy nhiên, những người vay chưa thanh toán số tiền là 47.300.000đ. Xét thấy đây là phương tiện phạm tội, căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo nộp lại số tiền 118.000.000đ – 47.300.000đ = 70.700.000đ, buộc những người vay chưa thanh toán phải nộp lại tổng số tiền là 47.300.000đ để sung ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với số tiền lãi hợp pháp (20%/năm) là 2.858.630đ. Xét thấy đây là khoản tiền phát sinh từ tội phạm, căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với số tiền lãi suất vượt quá 20%/năm theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tổng cộng là 67.178.485đ là tiền bị cáo chiếm đoạt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử buộc bị cáo trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[9]. Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 1.000.000đ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia bàn phím màu đen. Xét đây là tài sản của bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội và tiền liên quan đến tội phạm. Căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với những đồ vật, tài sản, tài liệu khác không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[10]. Về các vấn đề khác:

  • Quá trình điều tra xác định được, Phạm Hữu M cho chị Nguyễn Thị N vay tiền. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chị N không có mặt tại địa phương nên không làm rõ được nội dung nêu trên.
  • Quá trình điều tra xác định được, Phạm Hữu M cho một số người dân trên địa bàn vay tiền nhưng không rõ nhân thân lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.
  • Quá trình điều tra xác định trong việc Phạm Hữu M có cho chị Phan Thị Bích T2 vay tiền 10 lần vay thì có 02 lần là do chị Hồ Cẩm H3 đứng ra vay giùm. Về lãi suất, tiền trả lãi, gốc đều do chị T2 trực tiếp trả cho M.
  • Quá trình điều tra xác định được, Phạm Hữu M cho bà Nguyễn Thị M1 vay tiền thì có Nguyễn Văn B đi cùng. Tuy nhiên, qua điều tra xác định được B chỉ đi theo M lấy tiền góp 02 lần của bà Nguyễn Thị M1 với số tiền thu lợi bất chính là 1.150.685đ. B không bàn bạc trước, không thỏa thuận với M về số tiền cho vay, lãi suất cho vay đối với những người khác nên chưa đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với B.

Bị cáo nói lời sau cùng như sau: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 201; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự;
  • - Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
  • - Khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
  • - Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hữu M phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Hữu M 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng).

Về các biện pháp tư pháp:

  • - Buộc bị cáo Phạm Hữu M nộp lại số tiền 73.558.630đ (Bảy mươi ba triệu năm trăm năm mươi tám nghìn sáu trăm ba mươi đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
  • - Buộc bị cáo Phạm Hữu M trả lại tiền cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sau, gồm:
    • + Bà Vương Nhật Khánh T1 số tiền 1.317.123đ (Một triệu ba trăm mười bảy nghìn một trăm hai mươi ba đồng).
    • + Chị Đoàn Thị Diệu H1 số tiền 4.444.521đ (Bốn triệu bốn trăm bốn mươi bốn nghìn năm trăm hai mươi mốt đồng).
    • + Bà Kim Thị Thanh X số tiền 5.253.425đ (Năm triệu hai trăm năm ba nghìn bốn trăm hai mươi lăm đồng).
    • + Bà Nguyễn Thị M1 số tiền 1.150.685đ (Một triệu một trăm năm mươi nghìn sáu trăm tám mươi lăm đồng).
    • + Bà Nguyễn Thị Cẩm V số tiền 6.756.849đ (Sáu triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn tám trăm bốn mươi chín đồng).
    • + Chị Phan Thị Bích T2 số tiền 21.352.055đ (Hai mươi mốt triệu ba trăm năm mươi hai nghìn không trăm năm mươi lăm đồng).
    • + Bà Trương Quang Ngọc C số tiền 15.397.261đ (Mười lăm triệu ba trăm chín mươi bảy nghìn hai trăm sáu mươi mốt đồng).
    • + Chị Nguyễn Thị T3 số tiền 2.159.589đ (Hai triệu một trăm năm mươi chín nghìn năm trăm tám mươi chín đồng).
    • + Bà Nguyễn Thị Kim O số tiền 634.682đ (Sáu trăm ba mươi bốn nghìn sáu trăm tám mươi hai đồng).
    • + Ông Cao Đức T4 số tiền 1.431.507đ (Một triệu bốn trăm ba mươi mốt nghìn năm trăm lẻ bảy đồng).
    • + Chị Trần Hoàng O1 số tiền 3.554.078đ (Ba triệu năm trăm năm mươi bốn nghìn không trăm bảy mươi tám đồng).
    • + Chị Trần Thị Mỹ H2 số tiền 3.726.712đ (Ba triệu bảy trăm hai mươi sáu nghìn bảy trăm mười hai đồng).
  • - Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sau phải nộp tiền sung Ngân sách Nhà nước, cụ thể:
    • + Bà Vương Nhật Khánh T1 nộp lại số tiền 11.250.000đ (Mười một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
    • + Bà Kim Thị Thanh X nộp lại số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng).
    • + Bà Nguyễn Thị M1 nộp lại số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
    • + Bà Nguyễn Thị Cẩm V nộp lại số tiền 2.950.000đ (Hai triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).
    • + Chị Phan Thị Bích T2 nộp lại số tiền 23.500.000đ (Hai mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng).
    • + Bà Trương Quang Ngọc C nộp lại số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng).
    • + Chị Nguyễn Thị T3 nộp lại số tiền 2.700.000đ (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng).
    • + Bà Nguyễn Thị Kim O nộp lại số tiền 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng).
    • + Chị Trần Hoàng O1 nộp lại số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng).

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng). Tịch thu phát mãi sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia bàn phím màu đen.

(Số tiền theo Lệnh thanh toán lập ngày 28/11/2023; Vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/11/2023).

Về án phí:

Buộc bị cáo Phạm Hữu M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - CQCSĐT Công an huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án – VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Mai Văn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 151/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger