TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 140/2025/HS-ST Ngày: 18-6-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đại.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vương Thị Dung;
Ông Trần Quang Thuần.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thùy Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Ngọc Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 125/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2025/HSST-QĐ ngày 06/6/2025 đối với bị cáo:
Đinh Quang M; Giới tính: Nam; Sinh năm 2005, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú (chỗ ở): Ấp A, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Đinh Văn S (đã chết), con bà Nguyễn Thị N; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2025 đến nay. (Có mặt)
- Bị hại: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 2006. Nơi đăng ký thường trú (chỗ ở): Ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
- Người làm chứng: Anh Vũ Ngọc Tuấn A, sinh năm 2002. Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 11 giờ ngày 05/5/2024, trong lúc anh Nguyễn Minh T, sinh năm 2006, cư trú tại ấp A, xã P, huyện Đ cùng với anh Phạm Nguyễn Trường T1, sinh năm 2008, cư trú tại ấp C, xã L, huyện Đ đang làm phụ hồ tại nhà anh Vũ Ngọc Tuấn A, sinh năm 2002 tại ấp B, xã P, huyện Đ thì anh Minh T nhìn thấy Đinh Quang M (là người ngày hôm trước dùng cây bi-a đánh anh Trường T1 nhưng không trúng và không gây thương tích) đi qua nên nói với anh Tuấn A và anh Trường T1 biết thì anh Tuấn A nói “để tao dẫn tụi mày đi gặp nó hỏi lý do đánh T”. Sau đó, cả ba cùng đi đến khu vực sân bóng chuyền thuộc ấp A, xã P để tìm gặp M. Khi đến nơi, do không thấy M ở sân bóng chuyền nên anh Tuấn A nói đi về nhưng anh Minh T có gửi nuôi 01 con gà ở nhà anh Nguyễn Văn D – sinh năm 1995 (nhà anh D cạnh sân bóng chuyền) nên anh Minh T bảo anh Tuấn A chờ anh Minh T vào bắt gà về. Lúc anh Minh T vừa đến cửa chuồng gà thì bất ngờ bị M đứng sau cánh cửa tôn của chuồng gà lao ra dùng tay trái cầm 01 con dao dài khoảng 15cm, cán nhựa màu đen, lưỡi dao bằng kim loại, mũi nhọn đâm 02 nhát trúng vào vùng bụng bên trái anh Minh T gây thương tích. Sau đó, M bỏ chạy rời khỏi hiện trường còn anh Minh T được đưa đến Bệnh viện Đ cấp cứu.
Vật chứng vụ án: Đinh Quang M khai nhận hung khí mà M dùng để gây thương tích cho anh Nguyễn Minh T là 01 con dao dài khoảng 15cm, cán nhựa màu đen, lưỡi dao bằng kim loại, mũi nhọn. Sau khi gây án, M bỏ chạy làm rơi con dao trong khu vực vườn nhà ông Nguyễn Văn D nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ đã ra quyết định truy tìm nhưng chưa thu hồi được.
Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0917/KLTTCT-TTPYĐN ngày 05/9/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận anh Nguyễn Minh T bị thương tích như sau:
- - Sẹo hạ sườn trái kích thước trung bình. Tỷ lệ: 02%.
- - Sẹo hạ sườn trái kích thước trung bình. Tỷ lệ: 02%.
- - Sẹo mổ trên rốn kích thước lớn. Tỷ lệ: 03%.
- - Sẹo mổ dẫn lưu hố chậu phải kích thước nhỏ. Tỷ lệ: 01%.
- - Sẹo mổ dẫn lưu hố chậu trái kích thước nhỏ. Tỷ lệ: 01%.
- - Thủng dạ dày hai lỗ đã xử trí kết quả tốt. Tỷ lệ: 26%.
- - Thủng mạc treo đại tràng ngang phải phẫu thuật khâu cầm máu. Tỷ lệ: 21%.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Minh T tại thời điểm giám định là: 47% (bốn mươi bảy phần trăm).
Căn cứ Bản kết luận giám định cơ chế tổn thương qua hồ sơ số 0990/KLGĐCC-TTPYĐN ngày 02/10/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận cơ chế hình thành vết thương của anh Nguyễn Minh T như sau:
- - Vết thương vùng hạ sườn trái (đường trung đòn trái) # 04cm thấu bụng gây đứt sụn sườn, xuyên thấu dạ dày, rách mạc treo đại tràng ngang. Tổn thương này do vật sắc nhọn tác động vào vùng hạ sườn trái với lực mạnh theo hướng từ trước ra sau và chếch từ trái sang phải và từ trên xuống dưới gây nên.
- - Vết thương vùng hạ sườn trái (đường nách trước trái) # 03cm. Tổn thương này do vật sắc hoặc sắc nhọn tác động vào vùng hạ sườn trái với lực nhẹ theo hướng từ trái sang phải và hơi chếch từ trên xuống dưới hoặc gần song song với bề mặt da gây nên.
Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 1234/KLGĐCC-TTPYĐN ngày 20/11/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận: Với tổn thương của bệnh nhân Nguyễn Minh T là: vết thương vùng hạ sườn trái (đường trung đòn trái) khoảng 04cm thấu bụng gây đứt sụn sườn, xuyên thấu dạ dày, rách mạc treo đại tràng ngang và vết thương vùng hạ sườn trái (đường nách trước trái) khoảng 03cm. Bệnh nhân Nguyễn Minh T vào viện trong tình trạng: Bệnh nhân tỉnh táo, tiếp xúc tốt, không phù, không xuất huyết dưới da, hạch ngoại vi không to. Mạch 88 lần/phút; Nhiệt độ 37 độ C; Huyết áp 140/80 mmHg; Nhịp thở 20 lần/phút. Như vậy, các tổn thương của bệnh nhân Nguyễn Minh T thuộc loại cấp cứu có trì hoãn nếu không cấp cứu kịp thời thì ngay lập tức không gây tử vong, tuy nhiên nếu không phẫu thuật sẽ gây ảnh hưởng đến tính mạng của nạn nhân.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Minh T kê khai yêu cầu bồi thường tiền điều trị thương tích, tiền công lao động, tổn hại về sức khỏe và tinh thần là 60.000.000 đồng. Bị cáo Đinh Quang M chưa bồi thường cho anh T. Trong quá trình chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử anh T đã làm đơn không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự.
Tại Cáo trạng số 130/CT-VKSĐQ, ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo Đinh Quang M về tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134) của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Quang M từ 07 năm đến 08 năm tù; Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Minh T kê khai yêu cầu bồi thường tiền điều trị thương tích, tiền công lao động, tổn hại về sức khỏe và tinh thần là 60.000.000 đồng. Bị cáo Đinh Quang M chưa bồi thường cho anh T. Trong quá trình chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử anh T đã làm đơn không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên đề nghị không xem xét. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị hại, người làm chứng: Bị hại, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên lời khai của người này đã có trong quá trình điều tra, không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người làm chứng.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở để xác định: Vào khoảng 11 giờ ngày 05/5/2024, tại ấp A, xã P, huyện Đ, Đinh Quang M, dù không có mâu thuẫn gì với anh Nguyễn Minh T nhưng Đinh Quang M đã dùng 01 con dao (là hung khí nguy hiểm) đâm trúng 02 nhát vào vùng bụng anh Nguyễn Minh T gây thương tích cho anh T với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 47%. Do đó, bị cáo: Đinh Quang M đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, mặt khác gây ảnh hưởng xấu về an ninh và trật tự trong xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi và hậu quả do hành vi của mình gây ra nhưng do xem thường pháp luật nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình gây ra, cần có biện pháp xử phạt thích hợp nhằm cải tạo và giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về xử lý vật chứng: Không đặt ra xem xét, giải quyết do không thu hồi được.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử anh T đã làm đơn không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, quyết định về dân sự.
[7] Về điều luật, tội danh, mức án của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng là phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Xét ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thống nhất với tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng và không có ý kiến tranh luận gì về tội danh cũng như về hình phạt, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cần buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 326, Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134); điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo: Đinh Quang M phạm tội “Cố ý gây thương tích".
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Quang M: 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/01/2025.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đinh Quang M phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Đinh Quang M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Đại |
Bản án số 140/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 140/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Quang Minh Đ134
