Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2025/DS-PT
Ngày 04 - 4 - 2025
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung
Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế
Ông Nguyễn Thành Lập

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Bùi Trung Biển - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 02/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 264/2024/DS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 59/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Dương Chí D, sinh năm 1966 (vắng mặt).
  • Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Phạm Kim C, sinh năm 1966 (Theo văn bản uỷ quyền ngày 20 tháng 02 năm 2025, có mặt).
    Cùng địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
  • - Bị đơn: Ông Đỗ Thanh T, sinh năm 1970 (có mặt).
    Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1930 (vắng mặt).
    2. Bà Đỗ Thị R, sinh năm 1979 (vắng mặt).
      Cùng địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
    3. Bà Đỗ Ngọc L1, sinh năm 1977 (vắng mặt).
      Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau.
    4. Bà Đỗ Thị P, sinh năm 1964 (vắng mặt).
      Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau.
    5. Ngân hàng N1.
      Địa chỉ: Số B, đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.
  • Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Thanh T1 – Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam huyện N1 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Khóm H, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.
  • - Người kháng cáo: Ông Dương Chí D là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

· Nguyên đơn, ông Dương Chí D trình bày:

Vào ngày 17 tháng 4 năm 1994 ông Dương Chí D được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Minh Hải cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 20.130m² tọa lạc ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau. Đến tháng 3 năm 2023 ông Đỗ Thanh T có đưa cơ giới vào để cải tạo. Trong quá trình cải tạo ông T đã cố tình làm lấn sang phần đất của ông với diện tích khoảng 1.200m² và làm hư hại 10 cây dừa khoảng 02 năm tuổi, 01 cây bạch đằng có tổng trị giá khoảng 1.000.000 đồng. Ông có yêu cầu thỏa thuận với ông T nhiều lần nhưng không thỏa thuận được. Trước đây quá trình sử dụng, ranh đất là con mương chung 04 mét. Khi chuyển dịch sang nuôi tôm ông D lộn bờ vào con mương 02 mét, còn 02 mét phía ông T sử dụng không có lộn bờ. Từ trước đến nay ông T không có sên lên bờ đang tranh chấp mà mới sên từ khi cải tạo, làm đầm nuôi tôm khoảng 5, 6 tháng. Trước đây vào năm 2008 Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau giải quyết đất tranh chấp của ông với bà Nguyễn Xuân N đã được giải quyết và bản án đã có hiệu lực pháp luật. Hiện tại quyền sử dụng đất ông đang thế chấp ngân hàng N1 chi nhánh huyện P để vay vốn.

Theo diện tích đo đạc thực tế tổng diện tích đất ông D đang quản lý sử dụng là 20.163,9m² trong đó có 899,8m² nằm trong phạm vi lộ giới. Nay ông D thống nhất với diện tích đo đạc thực tế, nếu ông T có xâm phạm thì tháo dỡ, di dời công trình kiến trúc và trả lại hiện trang ban đầu. Đối với 10 cây dừa và 01 cây bạch đàn trị giá khoảng 1.000.000 đồng nay ông không yêu cầu. Ông D xác định giá đất thị trường là 80.000 đồng/m². Tại phiên tòa ông D thống nhất với diện tích đo đạc phần đất ông đang quản lý sử dụng là 20.163,9m², ông D yêu cầu giữ nguyên hiện trạng diện tích phần đất, không đồng ý thỏa thuận với ông T.

- Bị đơn, ông Đỗ Thanh T trình bày:

Phần đất trước đây là của cha ông là ông Đỗ Ngọc C1, năm 1994 ông Đỗ Ngọc C1 được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Minh Hải cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 28.990m² tọa lạc ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau, năm 2013 cha ông có tặng cho bà Đỗ Thị R1 với diện tích là 10.270m², diện tích còn lại là 18.720m². Trước khi chết cha ông đã tặng cho ông phần đất còn lại có chứng thực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhưng ông T chưa chuyển tên quyền sử dụng đất. Từ trước đến nay hộ ông và hộ ông D giáp ranh nhau. Trước khi chuyển dịch nuôi tôm có mương chung ngang 04 mét. Khi chuyển dịch nuôi tôm năm 2001 hai bên lộn bờ bỏ vào con mương chung, thực trạng bờ hiện hữu hơn 04 mét, ông không có lấn sang phần đất của ông D. Từ khi chuyển dịch sang nuôi tôm ít nhất cũng 5 đến 7 lần ông cải tạo sên đất bỏ lên bờ chung chứ không đúng như ông D trình bày. Theo diện tích đo đạc thực tế tổng diện tích đất ông T đang quản lý sử dụng là 19.634,1m² trong đó có 892,9m² nằm trong phạm vi lộ giới. Nay ông T thống nhất với diện tích đo đạc thực tế, nếu ông T có xâm phạm thì ông đồng ý tháo dỡ, di dời công trình kiến trúc và trả lại hiện trang ban đầu cho ông D. Ông T thống nhất giá đất thị trường là 80.000 đồng/m².

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 264/2024/DS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau quyết định:

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Chí D buộc ông Đỗ Thanh T trả lại cho ông Dương Chí D phần đất diện tích 1.200m² theo đo đạc thực tế có diện tích 715,6m² tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 10/12/2024, ông Dương Chí D có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Dương Chí D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Phần tranh luận tại phiên toà:

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, bà Phạm Kim C tranh luận: Phần bờ của ông D ngang 4m. Hiện nay, ông D sử dụng phần bờ chưa đủ 4m nên yêu cầu của ông D là có căn cứ.

Bị đơn, ông Đỗ Thanh T tranh luận: Bờ chung giữa hai bên 4m. Tôi cải tạo đất không tác động đất của ông D, phần đất tôi dư thì tôi không biết do thời điểm đo đạc không ảnh sai lệch với thực địa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của ông Dương Chí D. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số264/2024/DS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét kháng cáo của ông Dương Chí D, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Phần đất tranh chấp là bờ giáp ranh giữa đất của ông Dương Chí D và ông Đỗ Thanh T có diện tích theo đo đạc thực tế 715,6m², tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.

[2] Phần đất của ông D đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1994 với diện tích 20.130m². Theo đo đạc thực tế, ông D đang sử dụng phần đất (chưa cộng phần đất tranh chấp) có diện tích 20.163,9m² là nhiều hơn diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất của ông T có nguồn gốc của ông Đỗ Văn C2 cho lại và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1994 với diện tích 18.720m². Theo đo đạc thực tế, ông T đang sử dụng phần đất (chưa cộng phần đất tranh chấp) có diện tích 19.634,1m² là nhiều hơn diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, các đương sự đang sử dụng phần đất có diện tích nhiều hơn diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[3] Ông D và người đại diện theo uỷ quyền của ông D thừa nhận: Khi làm ruộng thì hai có 01 mương ranh chung 4m, mỗi bên đều có bờ giáp mương. Khi chuyển sang nuôi tôm, thì san bờ lấp vào mương chung 4m. Như vậy, bờ giữa hai phần đất là bờ chung và có kích thước ngang khoảng 4m. Ông D cho rằng, bờ của ông D nhiều hơn nhưng không có chứng cứ chứng minh. Theo Mảnh đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 03 tháng 4 năm 2025 của Công ty Cổ phần K – Chi nhánh C3 thể hiện: Cạnh bờ tranh chấp (M2M3M4) do ông T xác định thuộc đất của ông T cách mép bờ của ông D đều trên 2m, cụ thể: Từ điểm M2 đến mép bờ của ông D là 3,02m; Từ điểm M3 đến mép bờ của ông D là 2,05m; Từ điểm M4 đến mép bờ của ông D là 2,75m. Còn cạnh bờ tranh chấp (M1M6M5) do ông D xác định thuộc đất của D cách mép bờ của ông T đều không đến 2m, cụ thể: Tại điểm M5 về phía đất ông T là đất liền, không có mương; Từ điểm M6 đến mép bờ vuông của ông T là 1,0m; Từ điểm M1 đến mép bờ vuông của ông T là 0,97m. Ngoài ra, tại phiên tòa sơ thẩm, ông D trình bày: “Tôi chỉ nhận đủ diện tích mà nhà nước cấp cho tôi 20.130m². Còn phần thừa nhà nước muốn thu hồi hay giao cho ông T tôi đồng ý...”. Như vậy, phần đất tranh chấp hoàn toàn thuộc về đất của ông T nên án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D là có căn cứ.

[4] Tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Dương Chí D là không có căn cứ chấp nhận như nhận định tại đoạn [2] và [3].

[5] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Dương Chí D. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 264/2024/DS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

[6] Về chi phí tố tụng: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Dương Chí D nên ông D phải chịu chi phí đo đạc bổ sung ở cấp phúc thẩm số tiền 7.506.000 đồng. Như vậy, ông D phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm số tiền 43.919.936 đồng. Ông D đã nộp xong số tiền 43.919.936 đồng.

[7] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Dương Chí D phải chịu 300.000 đồng. Ông D có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng, được chuyển thu án phí.

[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Dương Chí D.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 264/2024/DS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Chí D buộc ông Đỗ Thanh T trả lại cho ông Dương Chí D phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 715,6m², tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.

    (Có kèm theo Mảnh đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 03/4/2025 của Công ty Cổ phần K – Chi nhánh C3)

  2. Về chi phí tố tụng: Ông Dương Chí D phải chịu toàn bộ số tiền 43.919.936 đồng; ông D đã thanh toán xong.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Dương Chí D phải chịu 300.000 đồng. Ông D có nộp tiền tạm ứng án phí số tiền 925.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0018999 ngày 15 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, được đối trừ; ông Dương Chí D được nhận lại số tiền 625.000 đồng.
  4. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Dương Chí D phải chịu 300.000 đồng. Ngày 10 tháng 12 năm 2024, ông D có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0003627 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, được chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Minh Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2025/DS-PT ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 151/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông D yêu cầu giữ nguyên hiện trạng diện tích phần đất, không đồng ý thỏa thuận với ông T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger