|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 151/2024/HSST Ngày 12/12/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Hải Âu
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Nguyễn Trọng Di
2. Ông: Phạm Văn Minh
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Hán Tấn Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Điền - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 131/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Lương Triều Đ (tên gọi khác: B) sinh ngày: 03 tháng 11 năm 1996, tại tỉnh Bình Thuận. Hộ khẩu thường trú: thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở hiện nay: thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông: Lương Trường P; sinh năm 1976 và bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1976; A, chị, em ruột: có 02 người; Vợ, con: chưa có.
Tiền án: 01 tiền án-Tại bản án số: 206/2022/HSST ngày 28.12.2022 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt Lương Triều Đ 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09.01.2024 (chưa được xóa án tích).
Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt vào ngày 03 tháng 8 năm 2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người làm chứng: Lương Trường P; sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên vào trưa ngày 03 tháng 8 năm 2024 Lương Triều Đ đi ngoài đường tại thị trấn P thì gặp T1 (không rõ nhân thân, lai lịch), Đ hỏi T1 về chổ bán ma túy thì T1 chỉ Đ đến khu vực nhà trẻ B2 thuộc khu phố M, thị trấn P, huyện T gặp người tên B1 (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma túy. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày 03.8.2024 Đ điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Wave màu xanh biển số 86B1-070.65 đi đến khu vực nhà trẻ B2 gặp B1. Đ hỏi B1 mua 350.000 đồng ma túy đá, B1 nhận 350.000 đồng từ tay Đ và đưa cho Đ 01 gói nylon không màu hàn kín, có nẹp khóa một đầu màu đỏ, kích thước 7,5cm x 05cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Đ nhận gói ma túy xong thì cất giấu trong người rồi đi đến quán cà phê ở thị trấn P để xem bóng đá. Đến khoảng gần 17 giờ 40 phút cùng ngày, Đ lấy gói ma túy cất giấu vào lưng quần phía sau bên trái của Đ đang mặc rồi điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Wave biển số 86B1-070.65 chạy trên tuyến đường QL1A để đi về nhà, khi Đ đi đến Km 1625 + 750m QL1A thuộc thôn T, xã C, huyện T thì bị tổ công tác của Phòng C – Công an tỉnh B phối hợp với Đội cảnh sát điều tra về ma túy - Công an huyện T và Phòng cảnh sát điều tra về ma túy – Công an tỉnh B yêu cầu dừng xe kiểm tra. Đ phát hiện lực lượng Công an kiểm tra nên Đ liền lấy gói ma túy ở lưng quần phía sau bên trái của Đ đang mặc cầm trong lòng bàn tay trái chuẩn bị ném thì bị lực lượng công an khống chế, bắt giữ.
Vật chứng thu giữ gồm:
Thu giữ trong lòng bàn tay trái của Đ 01 gói nylon không màu hàn kín, có nẹp khóa một đầu màu đỏ, kích thước 7,5cm x 05cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave màu xanh biển số 86B1-070.65.
Tại bản kết luận giám định về ma túy số số 942/KL-KTHS ngày 09.8.2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: Mẫu M gửi đến giám định có khối lượng 1,4877 gam là Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số: 135/CT-VKSTP-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố bị cáo Lương Triều Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi; bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số: 135/CT-VKSTP-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Lương Triều Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03 tháng 8 năm 2024.
Về biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 01 gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (7,5 x 05)cm và 1,3603 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 942 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
- Bị cáo Lương Triều Đai thừa N1 hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
- Bị cáo không tranh luận gì, thống nhất với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát. Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện T trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa bị cáo Lương Triều Đ khai nhận do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 14 giờ ngày 03.8.2024 bị cáo điều khiển xe mô tô hiệu Honda, biển số 86B1-070.65 đi đến khu vực nhà trẻ B2 thuộc khu phố M, thị trấn P, huyện T gặp B1 mua 350.000 đồng ma túy đá được đặt trong 01 gói nylon không màu hàn kín, có nẹp khóa một đầu màu đỏ. Sau khi mua ma túy xong bị cáo cất giấu trong người rồi đi đến quán cà phê ở thị trấn P để xem bóng đá, đến khoảng gần 17 giờ 40 phút cùng ngày, bị cáo điều khiển xe mô tô hiệu Honda, biển số 86B1-070.65 chạy trên tuyến đường QL1A để đi về nhà, khi bị cáo đi trên đường Q thuộc thôn T, xã C, huyện T thì bị Công an yêu cầu dừng xe kiểm tra, phát hiện bị cáo đang cất giấu 01 gói ma túy có khối lượng 1,4877 gam là Methamphetamine.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cùng với các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo khẳng định những lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện, đúng sự thật, bị cáo không bị bức cung và Cáo trạng truy tố là đúng, không oan cho bị cáo. Từ những căn cứ trên đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lương Triều Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, Cáo trạng số: 135/CT-VKSTP-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố bị cáo Lương Triều Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là công dân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, là hiểm họa của con người-xã hội, tệ nạn ma túy không những xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội mà còn là nguyên nhân sản sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Mặc dù nhận thức rõ điều này nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của mình bị cáo đã coi thường pháp luật, bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự xem thường pháp luật, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, nên cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo.
[4] Về tính tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
-Về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích, lần này lại tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
-Về tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần được áp dụng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để có đủ thời cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Tại giai đoạn điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại xe mô tô hiệu Honda, loại Wave màu xanh, biển kiểm soát số 86B1-070.65 cho chủ sở hữu theo quy định pháp luật.
- Đối với toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 01 gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (7,5 x 05) cm và 1,3603 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 942 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B. Xét, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Đối với người thanh niên tên T1 đã giới thiệu chổ mua ma túy cho bị cáo Lương Triều Đ và người thanh niên tên B1 tại khu vực nhà T thuộc thị trấn P, huyện T đã bán ma túy đá cho bị cáo, do chưa rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
[7] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong:
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố: Bị cáo Lương Triều Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2] Xử phạt bị cáo Lương Triều Đ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 8 năm 2024.
[3] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy đối với toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 01 gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (7,5 x 05)cm và 1,3603 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 942 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
(Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 tháng 10 năm 2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong và Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T).
[4] Về án phí: Buộc bị cáo Lương Triều Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: án xử công khai có mặt bị cáo, bị cáo Lương Triều Đ có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/12/2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Hải Âu |
Bản án số 151/2024/HSST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 151/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
