Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2024/HS-ST

Ngày: 28/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Kỹ và bà Nguyễn Thị Bẩy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Anh- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 123/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 248/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Văn S, sinh năm: 1972; nơi thường trú: thôn T, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nam; trình độ học vấn: Lớp: 7/10; nghề nghiệp: Công nhân; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N, sinh năm 1933 và bà Đỗ Thị M (đã chết) gia đình có 07 anh em, bị cáo là con thứ sáu; vợ là Tạ Thị Đ năm 1974; có 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện tại ngoại; có mặt.

2. M1, sinh năm: 1990; nơi ĐKHKTT: quận B, thành phố H, tỉnh An Huy, T tạm trú: số B Â, khu Y, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nam; trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Công nhân; hộ chiếu số: E73764369; dân tộc: Hán; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Trung Quốc; con ông M1 X và bà Feng Y; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện tại ngoại; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

1. Ông Bùi Văn L năm: 1983; trú tại: thôn T, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh Có mặt.

2. Công ty TNHH N2 chỉ tại: xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninhngười đại diện theo ủy quyền: ông Gu Y1– chức vụ: Phó giám đốc công ty TNHH N3

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Wei Zheng B năm 1988; số hộ chiếu EN0462920, là nhân viên hành chính và là phiên dịch của Công ty TNHH N4 mặt.

* Người làm chứng

  1. Anh Nguyễn Huy H năm: 1985; trú tại: thôn A, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh Có mặt.
  2. Anh Nguyễn Đ1 H1sinh năm: 1993; trú tại: thôn T, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh Có mặt.
  3. Anh Nguyễn Văn T năm: 1978; trú tại: thôn C, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh Vắng mặt.
  4. Anh Nguyễn Văn C năm: 1997; trú tại: thôn C, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh Vắng mặt.
  5. Anh Phùng Đức D năm: 1978; trú tại: thôn M, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Ninh Vắng mặt.
  6. Anh Hán V M2sinh năm: 1990; trú tại: thôn T, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh Vắng mặt.
  7. Anh Nguyễn C1 L1sinh năm: 1975; trú tại: thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Ninh Vắng mặt.

* Người phiên dịch: Chị Lê Nguyễn H1 L2sinh năm 1992; địa chỉ: khu H, phưỡng V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Quá trình kiểm tra, phát hiện tội phạm

Hồi 17 giờ 35 phút ngày 28/3/2024, tại thửa đất của gia đình anh Trần Văn L1 năm 1983 tại thôn C, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninhtổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường Công an tỉnh B1 (PC03) phối hợp với Công an huyện L hiện 01 xe ô tô tải BKS 14C-233.85 do anh Nguyễn Văn C năm 1997, trú tại thôn C, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninhvà 01 xe ủi nhãn hiệu Komatsu (không có người điều khiển) đang có hành vi đổ, san lấp chất rắn màu xám, dạng hạt mịn (nghi chất thải). Anh Công trình B1chất rắn trên anh được thuê vận chuyển từ bãi tập kết chất thải của Công ty TNHH N3(viết tắt là Công ty N5), địa chỉ tại thôn T, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninhđến đổ tại thửa đất nhà ông L3Tổ công tác yêu cầu dừng hoạt động đổ, san lấp và tiến hành lập biên bản sự việc theo quy định.

Ngày 02/4/2024, Công an tỉnh B1 ban hành Quyết định kiểm tra số 467/QĐ-KTĐĐ về việc kiểm tra địa điểm có liên quan đến tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường. Thực hiện quyết định, Đoàn kiểm tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, cân xác định khối lượng chất rắn màu xám đổ tại khu đất, tạm giữ và sử dụng xe chuyên dụng để vận chuyển chất rắn màu xám từ địa điểm kiểm tra đến gửi lưu giữ tại Công ty cổ phần M6 chỉ: thôn K, xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh Vụ việc được chuyển tới Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B xác minh, điều tra theo thẩm quyền.

Khám nghiệm hiện trường tại khu vực đổ, san lấp, xác định: Khu vực xảy ra sự việc là hai thửa đất nông nghiệp số 20 và số 53 thuộc tờ bản đồ số 29 ở thôn C, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninhđược cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2015 mang tên anh Bùi Văn L2 chị Trần Thị N1 năm 1989 (vợ ông L3 đích sử dụng đất: “Nuôi trồng thủy sản”. Thửa đất số 20 diện tích 1004m², thửa đất số 53 diện tích 937m², hai thửa đất giáp ranh nhau, phía Bắc giáp sông N giáp gia đình Trần Văn S1 Tây giáp nhà ông Nguyễn Đ2 S1phía Đông giáp nhà ông Nguyễn Văn K vực đổ, san lấp chất rắn màu xám có diện tích (39,8 x 10,3)m, được múc sâu khoảng hơn 01m so với hiện trạng cốt nền thửa đất. Tổ công tác đã thu giữ 08 mẫu vật tại các vị trí, độ sâu khác nhau trong khu vực đổ, san lấp và niêm phong trong thùng catton theo quy định (ký hiệu M3). Tiến hành cân, xác định chất rắn màu xám đổ tại khu đất có tổng khối lượng 194.229 kg.

Khám nghiệm hiện trường tại khu vực xử lý xỉ thải, tro bay tại Công ty N5 ở thôn T, xã A, huyện L, tỉnh Bắc NinhTổ công tác đã thu giữ 03 túi nilon đựng mẫu tro xỉ niêm phong trong thùng catton (ký hiệu M1), 02 túi nilon đựng mẫu tro bay niêm phong trong thùng catton (ký hiệu M2) theo quy định.

2. Kết quả trưng cầu giám định mẫu vật thu giữ

Tại bản Kết luận Giám định số 2683/KL-KTHS ngày 19/4/2024 của VBộ C1 kết luận:

Mẫu dạng tro xỉ (ký hiệu M1), mẫu dạng tro bay (ký hiệu M2) và các mẫu chất thải rắn (ký hiệu M3) gửi giám định đều có giá trị các thành phần nguy hại đặc trưng so với ngưỡng chất thải nguy hại quy định tại Bảng 1, Bảng 2 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại. Ngoài ra, đều không tìm thấy thành phần nguy hại hữu cơ được quy định tại Bảng 3. Do đó, các mẫu ký hiệu M1, M2, M3 đều không phải là chất thải nguy hại. Căn cứ vào khoản 10, Điều 3, Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường thì các mẫu ký hiệu M1, M2, M3 đều là chất thải rắn thông thường.

Tại bản Kết luận giám định số 1465/KL-KTHS ngày 18/6/2024 của Phòng K1Công an tỉnh Bkết luận: Chất thải rắn thông thường dạng tro xỉ được Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Btạm giữ, lưu giữ tại bãi tập kết chất thải của Công ty Cổ phần M7 có tổng trọng lượng là 194.220 kg.

Ngày 14/6/2024, Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B tiến hành lấy mẫu đất tại vị trí đổ thải trên thửa đất của anh Bùi Văn L4 để xác định mức độ ô nhiễm môi trường đất do hành vi đổ thải gây ra.

Tại Phiếu kết quả phân tích số 3110 ngày 11/7/2024 của Trung tâm Q - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B, kết quả phân tích mẫu nhỏ hơn giới hạn phát hiện MDL của phương pháp theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng đất QCVN 03:2023/BTNMT, cụ thể:

STT Thông số Đơn vị QCVN 03/2023 BTNMT
(Bảng 1 loại 1)
Kết quả
1 Cadmi (Cd) mg/kg 4 Không phát hiện
2 Arsenic (As) mg/kg 25 6,1
3 Thủy ngân (Hg) mg/kg 12 Không phát hiện
4 Chì (Pb) mg/kg 200 17,7
5 Kẽm (Zn) mg/kg 300 43,6
6 Nickel (Ni) mg/kg 100 19,5

Tại bản Kết luận giám định số 2006/KL-KTHS ngày 20/8/2024 của Phòng K1Công an tinh Bkết luận: Không có căn cứ pháp lý để xác định mức độ gây ô nhiễm môi trường.

3. Diễn biến hành vi phạm tội

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bxác định Trần Văn S, sinh năm 1972, HKTT: thôn T, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh và M2, sinh năm 1990; Hộ khẩu thường trú: quận B, thành phố H, tỉnh An Huy, T1 QuốcNơi tạm trú: số B Â, khu Y, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Nơi ở: thôn T, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh(cùng là nhân viên Công ty N5) là những người liên quan đến hành vi đổ, san lấp chất thải rắn thông thường tại hai thửa đất số 20 và 53 của gia đình ông Trần Văn L5, cụ thể như sau:

Công ty N5 là chủ đầu tư dự án “Đầu tư xây dựng Khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt tập trung” tại thôn T, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Dự án có nhà máy điện rác, đốt rác thải sinh hoạt tạo ra điện, vận hành thử nghiệm vào tháng 11/2023. Quá trình sản xuất, phát sinh ra chất thải gồm tro xỉ (tro đáy) và tro bay. Phần chất thải tro xỉ được phân loại, nghiền, sàng lọc và rửa sạch thành hạt tro xỉ, dạng hạt mịn màu trắng xám. Hạt tro xỉ sẽ được sản xuất thành gạch hoặc làm cốt liệu cho công trình xây dựng và giao thông. Do nhà máy mới đưa vào hoạt động thử nghiệm, chưa ký kết được với đơn vị có chuyên môn sản xuất gạch, chưa được Bộ X1cấp Giấy chứng nhận hợp chuẩn nên hạt tro xỉ và tro bay được tập kết tại bãi tập kết chất thải của Công ty. Trần Văn S2 công nhân tại bộ phận xử lý chất thải; M - Qlà nhân viên, được Công ty giao nhiệm vụ Chủ quản bộ phận sản xuất, quản lý tro xỉ. Việc phân công nhiệm vụ cho M3 - Qingfa của lãnh đạo Công ty được thực hiện bằng miệng, không có văn bản. Trần Văn S2 công nhân bộ phận xử lý chất thải sau quá trình đốt rác.

Khoảng cuối tháng 3 năm 2024, Trần Văn S3 mượn của anh Bùi Văn L6 thửa đất nông nghiệp nuôi trồng thủy sản số 20 và số 53 với mục đích sử dụng để chứa đồ đạc, vật dụng phục vụ kinh doanh dịch vụ ăn uống của nhà hàng “Điểm Hẹn” do gia đình Slà chủ. Do là thửa đất trũng nên S3 trao đổi với L7 tiến hành san lấp, tân cao lên để sử dụng. Lđồng ý và thuê máy múc, múc hết phần đất màu đổ sang vườn bên cạnh của gia đình mình để trồng cây, tạo thành một hố dài khoảng 40 mét, rộng khoảng 10 mét, sâu khoảng 01 mét.

Sau khi mượn được anh L6 thửa đất, S3 xin M3Qingfa khoảng 200 tấn tro xỉ tại bãi tập kết chất thải tro xỉ của Công ty N5 về để san lấp 02 thửa đất nêu trên. Meng - Qingfa biết việc S4 chất thải tro xỉ về để san lấp đất vườn nhà S(vị trí cụ thể ở đâu thì không rõ) nên đồng ý. Việc cho S12 thải trên, M5tự ý thực hiện, không báo và lãnh đạo Công ty không được biết.

Sau khi được M3Q đồng ý, ngày 28/3/2024, Sthuê anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1978, trú tại thôn C, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninhanh Nguyễn Văn C2, sinh năm 1997 (là con trai của anh T3 anh Phùng Đức D1, sinh năm 1978, trú tại thôn M, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Ninhđiều khiển 03 xe tải ben, loại xe sử dụng để vận chuyển vật liệu xây dựng thông thường (không phải xe chuyên dụng để vận chuyển chất thải) vận chuyển số chất thải rắn trên từ bãi tập kết chất thải của Công ty N5 về đổ san lấp tại 02 thửa đất đã mượn của nhà anh Trần Văn L5, thỏa thuận tiền công 400.000 đồng/chuyến; thuê anh Nguyễn C1 L1, sinh năm 1975, trú tại thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Ninhđiều khiển xe ủi nhãn hiệu Komatsu để san ủi, thỏa thuận tiền công 600.000 đồng/giờ. Khi thuê vận chuyển và san lấp, S5 nói vật liệu được thuê vận chuyển, san lấp là loại gì. Từ 08 giờ 15 phút ngày 28/3/2024, các xe tải do S14 đến Công ty N6 mới, đi qua cổng số 2 (cổng có chức năng cân trọng tải) do anh Nguyễn Huy H2, sinh năm 1985, trú tại thôn A, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninhtrực bảo vệ để vào bãi tập kết chất thải.

Anh Hbáo cáo M3Qthì M3Qđồng ý cho các xe tải của Svào bãi tập kết chất thải để múc chất thải rắn đổ lên xe cho các lái xe chở đi. Khi xe ô tô do S14 vào cổng Công ty, Snhờ anh H3 chép lại BKS, trọng tải phương tiện đi vào (xe tô tô không, chưa có chất thải). Sau khi xe ô tô đã múc chất thải lên thùng thì che bạt và phải di chuyển qua cân tải trọng đặt tại cổng số 2 Công ty Năng lượng mới để cân (trọng tải hàng hóa là khối lượng chênh lệch khi phương tiện đi ra trừ khối lượng phương tiện đi vào), lái xe ký xác nhận vào bảng kê để anh H4 và báo lại S6. Đến 15 giờ 14 phút cùng ngày, tổng cộng có 12 lượt phương tiện là ô tô tải do S14 vào Công ty, trong đó 11 lượt phương tiện có chở chất thải đi ra ngoài. Cụ thể: anh T4 khiển xe tải BKS 99C-258.56 vận chuyển 05 chuyến; anh D2 khiển xe tải BKS 29C-745.86 vận chuyển 05 chuyến và anh C3 khiển xe tải BKS 14C-233.85 vận chuyển 01 chuyến. Bản thân anh H5 tham gia vào việc múc chất thải tại bãi tập kết chất thải của Công ty lên xe ô tô, không được SM3Qcho biết xe ô tô chở chất thải hay hàng hóa gì và không biết xe đi đâu, làm gì. Sau khi đổ chất thải tại 02 thửa đất nhà anh Trần Văn L8 L1điều khiển máy thực hiện việc ủi san lấp. Đến hồi 17 giờ 35 phút ngày 28/3/2024, khi S7 thực hiện hành vi đổ, san lấp chất thải thì lực lượng Công an phát hiện, yêu cầu dừng hoạt động đổ, san lấp, đổ thải như đã nêu trên.

4. Xác minh tại các cơ quan, tổ chức có liên quan

4.1. Sở Xây dựng tỉnh B

Tại văn bản số 848 ngày 03/5/2024 của Sở X xác định: Sở X không cấp phép (hoặc ban hành văn bản) cho phép sử dụng tro, xỉ thải làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng, vật liệu san lấp mặt bằng đối với dự án khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt tập trung tại xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninhdo Công ty N5 làm chủ đầu tư.

4.2. Sở T6

Tại văn bản số 874 ngày 25/4/2024 của Sở T6 xác định:

+ Từ khi hoạt động vận hành thử nghiệm dự án “Đầu tư xây dựng Khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt tập trung”, Công ty N5 có báo cáo kết quả vận hành thử nghiệm gửi về Sở TCông ty đã tiến hành lấy mẫu khí thải, nước thải và các kết quả đều đạt Quy chuẩn cho phép.

+ Đối với tro bay, tro xỉ được xử lý (theo Giấy phép môi trường số 461 ngày 27/10/2022) như sau:

Tro bay: Được trộn chất ổn định (C– chất tao càng) => Chôn lấp => tro bay => Xử lý bởi đơn vị có chức năng theo quy định.

Tro xỉ: Tro, xỉ => Kho chứa => Phễu nhập liệu => Sàng lồng cuốn =>Máy nghiền chính => Sàng từ/sàng lọc xoắn điện/sàng lọc bằng trọng lực =>Tách nước => Hạt tro xỉ => Hệ thống sản xuất gạch, công suất 60 tấn/ngày.

4.3. UBND huyện L

Tại văn bản số 628 ngày 08/5/2024 của UBND huyện Lxác định: Thửa đất số 20 và thửa đất số 53, thuộc tờ bản đồ số 29, thôn C, xã A, huyện L; mục đích sử dụng: đất nuôi trồng thủy sản. 02 thửa đất trên chưa cấp phép để san lấp, đổ chất thải rắn công nghiệp thông thường. Hành vi tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng các thửa đất nêu trên của chủ sử dụng đất chưa được xem xét xử phạt vi phạm hành chính.

4.4. Công ty N5:

Công ty N5 hoạt động theo Giấy phép môi trường số 461/GPMT-UBND ngày 27/10/2023 của UBND tỉnh B thử nghiệm từ tháng 11/2023 đến hết ngày 31/3/2024 chuyển sang vận hành chính thức. Quá trình sản xuất phát sinh ra chất thải gồm tro xỉ và tro bay. Phần chất thải tro xỉ được phân loại, nghiền, sàng lọc và rửa sạch thành hạt tro xỉ, dạng hạt mịn màu trắng xám được tập kết tại bãi tập kết chất thải của công ty. Công ty đang tìm đơn vị có đủ chức năng để xử lý hoặc tận dụng số tro xỉ làm vật liệu xây dựng. Sau khi vụ việc xảy ra, Công ty tiến hành làm thủ tục để được cấp chứng nhận sản phẩm đối với tro xỉ. Ngày 04/6/2024, Công ty Đ3 X1cấp Giấy chứng nhận hợp chuẩn số 129/2024/DNTM-VLXD cho sản phẩm “Tro đáy từ nhà máy đốt chất thải rắn sinh hoạt để phát điện đã qua gia công, xử lý làm cốt liệu cho công trình xây dựng và giao thông”. Meng - Qingfa là Chủ quản phụ trách bộ phận xử lý tro, xỉ cũng là người quản lý trực tiếp của S Việc M3Qingfa cho S12 thải, Công ty không biết.

5. Kết quả hoạt động tương trợ tư pháp

- Tại Công hàm số LS/280/2024 ngày 12/6/2024 của Phòng Lãnh sự Đại sứ quán nước Cộng hòa nhân dân T7 tại Việt Nam xác định: “Meng - Qingfa, nam, sinh ngày 21/12/1990, số chứng minh thư: 340621199012210018, hộ chiếu số: E73764369 có hiệu lực từ ngày 08/9/2016 đến ngày 07/9/2026, hộ khẩu thường trú: quận B, thành phố H, tỉnh An Huy, Trung Quốc”.

- Ngày 20/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B có văn bản số 2382, đề nghị Vụ Hợp tác quốc tế và tương trợ tư pháp về hình sự - Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện tương trợ tư pháp hình sự để xác định nhân thân, lý lịch bị can M3Q.

- Ngày 21/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có văn bản số 2601/VKSTC-V13 gửi Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hòa nhân dân T1thực hiện yêu cầu tư pháp về hình sự đối với nội dung trên nhưng chưa có kết quả.

6. Vật chứng của vụ án đã thu giữ và xử lý vật chứng

Ngày 13/6/2024, M3Qingfa tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 250 triệu đồng để đảm bảo công tác điều tra, truy tố, xét xử. Cơ quan điều tra đã chuyển số tiền trên đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh chờ giải quyết theo quy định.

Số chất thải tổng khối lượng 194.220 kg đang bảo quản tại Công ty cổ phần M7

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 137/CT-VKSBN-P1 ngày 09/10/2024 của VKSND tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Trần Văn S8 về tội “Gây ô nhiễm môi trường” theo điểm g khoản 1 Điều 235 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, cả 02 bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo trình bày: Quá trình sản xuất, vận hành thử nghiệm khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt tập trung của Công ty TNHH N3 có phát sinh ra chất thải gồm tro xỉ và tro bay do Công ty quản lý, bị cáo Meng Qlà nhân viên của công ty và là người quản lý chất thải đã đồng ý cho bị cáo S194.220 kg chất thải này để Sđổ san lấp khu đất của gia đình tại thôn C, xã A, huyện L chưa được các cơ quan chức năng cho phép. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo M3Qcho rằng cáo trạng truy tố bị cáo là hơi nặng, bị cáo S9 bày gia đình hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Văn L9 bày có cho bị cáo S13 2 thửa đất nông nghiệp nuôi trồng thủy sản, khi Sáu đổ chất thải để san lấp khu đất này thì ông không bàn bạc gì với S11 không biết đó là chất thải.

Ông Wei Z Btrình bày việc bị cáo M3 Qingfa cho bị cáo Schất thải thì không báo cáo công ty và công ty không biết việc bị cáo M3 cho bị cáo S12 thải. Ông đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò đồng phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo trong vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Trần Văn S10 tội “Gây ô nhiễm môi trường”.

Áp dụng điểm g khoản 1, khoản 4 Điều 235; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Trần Văn S từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo từ 30 đến 40 triệu đồng.

Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 235; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35; Điều 37 Bộ luật hình sự, xử phạt: Meng-Qingfa từ 230 đến 270 triệu đồng. Xác nhận bị cáo đã nộp 250 triệu đồng trong quá trình điều tra.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị trục xuất bị cáo M4– Qingfa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi chấp hành xong hình phạt tiền.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 194.220 kg chất thải rắn thông thường đang bảo quản tại Công ty cổ phần M7

Bị cáo Trần Văn S nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, bị cáo có ý kiến do thiếu hiểu biết pháp luật, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo M1 nhất trí về tội danh và hình phạt chính là phạt tiền. Tuy nhiên, đề nghị HĐXX xem xét lại hình phạt trục xuất đối với bị cáo vì bị cáo đã đầu tư nhiều tài sản ở Việt Nam, bị cáo sẽ xin gia hạn visa nên đề nghị không áp dụng hình phạt trục xuất đối với bị cáo.

Ông Bùi Văn L10 có ý kiến tranh luận gì.

Đại diện Công ty TNHH N5 là ông Wei Z Bđề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đối đáp với quan điểm của bị cáo M3, đại diện Viện kiểm sát khẳng định bị cáo phạm tội ở Việt Nam, hiện nay visa của bị cáo đã hết hạn nên cần trục xuất bị cáo rời khỏi lãnh thổ Việt Nam là phù hợp nên giữ nguyên quan điểm như đã luận tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, vì vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Meng - Qingfa là nhân viên Công ty TNHH N2 chỉ tại thôn T, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninhđược giao nhiệm vụ Chủ quản bộ phận sản xuất, quản lý tro xỉ tại bãi tập kết chất thải tro xỉ của Công ty. Trần Văn S2 nhân viên bộ phận xử lý chất thải, chịu sự quản lý, phân công của M3M5

Quá trình sản xuất, vận hành thử nghiệm, Công ty có phát sinh ra chất thải gồm tro xỉ và tro bay. Các chất thải này chưa được Bộ X1 Giấy chứng nhận hợp chuẩn, chưa được xử lý bởi các đơn vị có chức năng nên được tập kết tại bãi chất thải tro xỉ của Công ty M8 lý. Do có nhu cầu san lấp hai thửa đất nuôi trồng thủy sản số 20 và số 53, tờ bản đồ số 29 thuộc ở thôn C, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninhđể chứa đồ đạc, vật dụng phục vụ kinh doanh dịch vụ ăn uống nhà hàng “Điểm Hẹn” của gia đình, S4 M3Qingfa tro xỉ tại bãi tập kết chất thải tro xỉ của Công ty để san lấp. Meng - Qingfa biết mục đích Sxin tro xỉ để san lấp và đồng ý. Ngày 28/3/2024, S14 phương tiện vận chuyển 194.220 kg chất thải rắn thông thường là tro xỉ tại bãi tập kết chất thải tro xỉ của Công ty để đổ, san lấp tại các thửa đất số 20 và số 53. Khi S7 thực hiện hành vi đổ, san lấp chất thải rắn vào 02 thửa đất nêu trên trái pháp luật thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.

Vì vậy, hành vi của các bị cáo Trần Văn S11 M3Q đã phạm tội “Gây ô nhiễm môi trường” theo g khoản 1 Điều 235 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý, làm biến đổi tính chất vật lý, hóa học và sinh học của thành phần môi trường gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người, sinh vật và thiên nhiên. Do vậy, cần phải xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3]. Xét vai trò đồng phạm, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, HĐXX thấy rằng:

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự phân công, bàn bạc, cấu kết chặt chẽ khi thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo S là người khởi xướng, chủ động xin Meng-Qingfa chất thải để đổ thải ra môi trường, bị cáo M4– Qbiết Sxin chất thải để về san lấp đất của gia đình S là vi phạm pháp luật nhưng vẫn đồng ý cho nên Scó vai trò cao hơn M3Qingfa. Do đó, khi quyết định hình phạt cũng cần có hình phạt tương xứng với vai trò đồng phạm của từng bị cáo đã thực hiện.

Về tình tiết tăng nặng: Cả 02 bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo M3Qđã tự nguyện nộp một khoản tiền để đảm bảo thi hành án nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo Trần Văn S có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy, không cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cần chiếu cố, khoan hồng cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Đối với bị cáo M5 có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện nộp 250 triệu đồng để khắc phục hậu quả và đảm bảo thi hành án. Do vậy, chỉ cần phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo cũng đủ giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo S3 hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trần Văn S. Đối với bị cáo M3, cần trục xuất rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi chấp hành xong hình phạt tiền như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[4]. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy 194.220 kg chất thải rắn thông thường đang bảo quản tại Công ty cổ phần M7

[5]. Những vấn đề khác: Đối với Công ty N5, quá trình kiểm tra xác định Công ty có các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường như: Không ghi chép đầy đủ thông tin của quá trình vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải theo quy định; Khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích kinh doanh, dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp với lưu lượng từ 1.000 m3/ngày đêm đến dưới 2.000 m3/ngày đêm không có giấy phép. Cơ quan điều tra có văn bản gửi UBND huyện L vi phạm hành chính theo thẩm quyền là phù hợp.

Đối với việc M3Qingfa tự ý cho Trần Văn S12 thải, Công ty N5 không biết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với các cá nhân là lãnh đạo Công ty và pháp nhân đối với Công ty N5 là phù hợp.

Đối với Bùi Văn L11 chủ sử dụng thửa đất số 20 và số 53, tờ bản đồ số 29 cho Trần Văn S13 sử dụng vào mục đích để đồ đạc phục vụ kinh doanh hoạt động ăn uống, có dấu hiệu sử dụng đất sai mục đích, không được cơ quan có thẩm quyền cho phép, vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Cơ quan điều tra có văn bản gửi UBND huyện L vi phạm hành chính theo thẩm quyền là phù hợp.

Đối với Trần Văn S2 người mượn, quản lý sử dụng thửa đất số 20 và số 53 vào mục đích để đồ đạc phục vụ kinh doanh hoạt động ăn uống, có dấu hiệu sử dụng đất sai mục đích, không được cơ quan có thẩm quyền cho phép; Sử dụng phương tiện vận chuyển chất thải rắn công nghiệp thông thường không đáp ứng yêu cầu kỹ về bảo vệ môi trường theo quy định, vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và bảo vệ môi trường. Cơ quan điều tra có văn bản gửi UBND huyện L vi phạm hành chính theo thẩm quyền là phù hợp.

Đối với anh Nguyễn Văn T5 Văn CPhùng Đức Dvà Nguyễn Chính L1là những người được Trần Văn S14 vận chuyển, đổ, san lấp chất thải, các cá nhân này làm không biết chất rắn được thuê vận chuyển, đổ, san lấp là chất thải rắn thông thường, không biết mục đích sử dụng các thửa đất số 20 và số 53, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý mà nhắc nhở là phù hợp.

Đối với anh Nguyễn Huy H6 bảo vệ Công ty N2mới, anh H5 tham gia vào việc múc chất thải tại bãi tập kết chất thải của Công ty lên xe ô tô, không biết xe ô tô chở chất thải và xe chở đi đâu, làm gì, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp

[6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Trần Văn S10 tội “Gây ô nhiễm môi trường”.

Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 235; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Trần Văn S 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Văn S15 Ủy ban nhân dân xã A, tỉnh Bắc Ninhgiám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 235; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt: Meng - Qingfa 250 triệu đồng sung ngân sách nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp 250 triệu đồng theo biên lai thu tiền số 0001417 ngày 15/10/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Điều 37 Bộ luật hình sự: Trục xuất bị cáo M3Qingfa rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi chấp hành xong hình phạt tiền.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 194.220 kg chất thải rắn thông thường đang bảo quản tại Công ty cổ phần M7

(Vật chứng có đặc điểm theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản và giao bảo quản giữa Cơ quan CS điều tra PC03 với Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh và Công ty cổ phần M7 ngày 27/11/2024).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Trần Văn SM1mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQCSĐT (PC 03)- PV 27 CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng PC 10 - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo; người TGTT khác;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về gây ô nhiễm môi trường

  • Số bản án: 151/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây ô nhiễm môi trường
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn S và ĐP - Gây ô nhiễm môi trường
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger