Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 151/2024/HS-ST

Ngày: 29-11-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Thể.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lãnh Văn Việt.

Ông Ninh Văn Trung.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 128/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1985. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; HKTT và nơi ở hiện nay: thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nguyên là công chức địa chính - xây dựng thuộc UBND xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Trình độ học vấn: 12/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Đình chỉ sinh hoạt Đảng từ ngày 30/6/2022; Con ông: Nguyễn Đình H1, sinh năm 1953; Con bà Vũ Thị T, sinh năm 1959. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H2, sinh năm 1986 và có 02 con (lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013)

- Tiền án Tiền sự: Không.

- Nhân thân: Tại bản án số 109/2023/HSST ngày 12/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Mạnh H 13 năm tù về các tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”, “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” (Các hành vi phạm tội của H đều xảy ra năm 2020)

- Hiện bị cáo đang chấp hành hình phạt tù của bản án nêu trên tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Duy H3, sinh năm 1970 (vắng mặt)
    Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  2. Ông Hỷ Văn N, sinh năm 1979 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  3. Ông Nguyễn Trọng V, sinh năm 1959 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Tổ dân phố Quang Trung, thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
  4. Ông Lê Bá T1, sinh năm 1967 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  5. Ông Ngọ Xuân T2, sinh năm 1968 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  6. Ông Ngô Bá Q, sinh năm 1966 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  7. Ông Ngô Văn S, sinh năm 1967 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  8. Ông Ngọ Xuân B, sinh năm 1965 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  9. Ông Ngô Thanh L, sinh năm 1959 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  10. Anh Trần Triệu S1, sinh năm 1983 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  11. Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang (do ông Trần Văn B1 làm đại diện) (vắng mặt).
  12. Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang (do ông Phạm Hồng L1 – đại diện theo ủy quyền) (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2019, ông Nguyễn Duy H3, sinh năm 1970, trú tại thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang đến Ủy ban nhân dân (UBND) xã Q để làm thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu đối với thửa đất số 256, tờ bản đồ số 151 có địa chỉ tại thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H3 do Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1985, trú tại thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang là công chức Địa chính - Xây dựng thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) xã Q trực tiếp thụ lý. Sau khi tiếp nhận, H đã liên hệ với Công ty TNHH D vẽ bản đồ Giang Gia tiến hành đo đạc thửa đất trên và thiết lập hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H3. Quá trình thẩm định, lập hồ sơ, để kịp thời gian hoàn thành hồ sơ, H không thực hiện việc lấy ý kiến dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất của ông H3; không tiến hành việc niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ và kết thúc công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà tự thiết lập tài liệu và giả mạo chữ ký của ông Ngọ Xuân T2, sinh năm 1968, trú quán Thôn T, xã Q, huyện L (là Trưởng thôn T) trong các biên bản gồm: Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất đề ngày 06/6/2019; Biên bản về việc niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Duy H3 tại thôn T, xã Q đề ngày 08/6/2019; Biên bản về việc kết thúc công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Duy H3 tại thôn T, xã Q đề ngày 24/6/2019; Biên bản thẩm định hồ sơ cấp GCN quyền sử dụng đất đề ngày 31/7/2019. Sau khi thiết lập đầy đủ tài liệu, hồ sơ, H đã trình toàn bộ hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Nguyễn Duy H3 cho ông Hỷ Văn N, sinh năm 1979, trú tại thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là Phó chủ tịch UBND xã Q) để ký toàn bộ hồ sơ. Sau đó H chuyển hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H3 đến chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L để thẩm định tiếp. Đến tháng 8/2019, ông Nguyễn Duy H3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 256, tờ bản đồ số 151, diện tích là 852m², trong đó: đất ở tại nông thôn: 200m2, đất trồng cây lâu năm: 652m2, do ông Lê Bá T1 là Phó chủ tịch UBND huyện L ký.

Ngày 13/02/2023, do nghi ngờ việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H3 không đúng quy định pháp luật, ông Leo Văn N1 là công dân thôn H, xã Q, huyện L đã làm đơn tố giác đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đề nghị xác minh làm rõ. (BL: 15)

Ngày 20/02/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện L đã thu giữ hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng lần đầu đối với thửa đất nêu trên của ông Nguyễn Duy H3 (hồ sơ gốc) tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L, trong đó có các tài liệu gồm:

  • 01 (một) Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất đề ngày 06/6/2019 (ký hiệu A27);
  • 01 (một) Biên bản về việc niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Duy H3 tại thôn T, xã Q đề ngày 08/6/2019 (Ký hiệu A30);
  • 01 (một) Biên bản về việc kết thúc công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Duy H3 tại thôn T, xã Q đề ngày 24/6/2019 (ký hiệu A31);
  • 01 (một) Biên bản thẩm định hồ sơ cấp GCN quyền sử dụng đất đề ngày 31/7/2019 (ký hiệu A32).

Cơ quan điều tra Công an huyện L đã tiến hành trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký trên các tài liệu trong hồ sơ do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai đã giao nộp nêu trên.

Tại bản kết luận giám định số 481/KL-KTHS ngày 22/3/2023 của Phòng K công an tỉnh B kết luận:

“...9. Chữ ký, chữ viết mang tên Ngọ Xuân T2 dưới các mục “chủ trì cuộc họp”, “trưởng thôn” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A27, A30, A31, A32) so với chữ ký, chữ viết của Ngọ Xuân T2 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M16, M17) không phải do cùng một người ký, viết ra.

10. Chữ ký mang tên Ngô Bá Q tại cột “ký tên” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A27) so với chữ ký của Ngô Bá Q trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M12, M13) không phải do cùng một người ký ra

11. Chữ ký mang tên Ngô Thanh T3 tại cột “ký tên” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A27) so với chữ ký của Ngô Thanh L trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M14, M15) không phải do cùng một người ký ra

12. Chữ ký dạng chữ viết có nội dung “S1” tại cột “ký tên” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A27) so với chữ ký, chữ viết của Ngô Văn S trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M18, M19) không phải do cùng một người ký ra

...

14. Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Mạnh H dưới các mục “công chức địa chính”, “người dẫn đạc”, “Công chức địa chính xã”, “cán bộ địa chính” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A16, A17, A19, A20, từ A29 đến A32); chữ viết dưới mục “II. Xác nhận của ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1); chữ viết trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A16, A27 – trừ các nội dung đã kết luận ở trên) so với chữ ký của Nguyễn Mạnh H trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M7, M8, M9) là do cùng một người ký, viết ra.

Tại Kết luận giám định số 1449/KL-KTHS ngày 08/8/2023 của Phòng K công an tỉnh B kết luận: Chữ ký mang tên Ngọ Xuân B tại cột “Ký tên” dòng “4- Ngọ Xuân B” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A27) so với chữ ký của Ngọ Xuân B trên tài liệu mẫu (ký hiệu M41) là do cùng một người ký ra”.

Tại Kết luận giám định số 2210/KL-KTHS ngày 14/11/2023 của Phòng K công an tỉnh B kết luận: Chữ viết mực màu đen tại mục “II. Xác nhận của ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, chữ viết có nội dung “Ngọ Xuân T2” dưới các mục “chủ trì cuộc họp”, “trưởng thôn” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A27, A32); chữ viết mực màu xanh trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A30, A31) so với chữ viết của Nguyễn Mạnh H trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M7, M8, M9, M49) là do cùng một người viết ra. Phòng K không kết luận giám định chữ ký dạng chữ viết, chữ viết có nội dung “Hy – nguyễn Duy Hy” dưới các mục “chủ sử dụng đất”, “người viết đơn”, “xác nhận của người sử dụng đất về việc đã công khai danh sách này” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A4 đến A8, A18, A19, A20, A32, A33) so với chữ viết của Nguyễn Mạnh H trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M7, M8, M9, M49) do xuất hiện các đặc điểm giống nhau, khác nhau không giải thích được. Phòng K không kết luận giám định chữ ký mang tên Ngọ Xuân T2” dưới mục “chủ trì cuộc họp”, “trưởng thôn” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A27, A30, A31, A32) do không có mẫu so sánh cùng dạng.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Mạnh H đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, chỉ vì dịch bệnh covid bị phong tỏa đi lại, bị cáo không kịp tiến độ làm hồ sơ, do áp lực về thời gian hoàn thành công việc, nên bị cáo đã giả mạo các giấy tờ như cáo trạng đã nêu, nhưng bị cáo không có mục đích vụ lợi gì. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra đã được công bố tại phiên tòa.

Tại bản Cáo trạng số 140/KSĐT ngày 28 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H về tội “Giả mạo trong công tác” theo điểm c khoản 2 Điều 359 Bộ luật hình sự.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn giữ quyền công tố Nhà nước tại phiên toà đã luận tội bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 2, 5 Điều 359; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù về tội “Giả mạo trong công tác”. Tổng hợp với mức hình phạt 13 năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số 109/2023/HSST ngày 12/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt của cả hai bản án từ 16 năm đến 16 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 13/6/2022).

Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Nguyễn Mạnh H đảm nhiệm công việc liên quan đến địa chính xây dựng trong thời hạn 01 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Tổng hợp hình phạt bổ sung với bản án hình sự sơ thẩm số 109/2023/HSST ngày 12/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang: buộc bị cáo chấp hành hình phạt bổ sung của cả hai bản án cấm bị cáo Nguyễn Mạnh H đảm nhiệm công việc liên quan đến địa chính xây dựng trong thời hạn 03 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập: Hoạt động điều tra thu thập chứng cứ và các tài liệu của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập đúng quy định của pháp luật.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kết luận giám định cùng tang vật chứng thu hồi được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: “Năm 2019, Nguyễn Mạnh H là cán bộ địa chính xây dựng của UBND xã Q, huyện L được phân công thụ lý, lập hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Duy H3, sinh năm 1970, trú tại thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang đối với thửa đất số 256, tờ bản đồ số 151 có địa chỉ tại thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Để hoàn thành nhiệm vụ được giao đúng thời hạn, H không thực hiện việc lấy ý kiến dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất của ông H3; không tiến hành việc niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ và kết thúc công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà tự thiết lập và giả mạo chữ ký của ông Ngọ Xuân T2 (là Trưởng thôn T) trong các biên bản gồm: Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất đề ngày 06/6/2019; Biên bản về việc niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Duy H3 tại thôn T, xã Q đề ngày 08/6/2019; Biên bản về việc kết thúc công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Duy H3 tại thôn T, xã Q đề ngày 24/6/2019; Biên bản thẩm định hồ sơ cấp GCN quyền sử dụng đất đề ngày 31/7/2019.”.

[3] Hành vi nêu trên của Nguyễn Mạnh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giả mạo trong công tác”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 359 của Bộ luật Hình sự. Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, làm cho cơ quan, tổ chức bị suy yếu, mất uy tín; Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Bố đẻ bị cáo được tặng kỷ niệm chương, bằng khen, bố vợ được tặng huân chương kháng chiến hạng ba, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được xem xét theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, lại có nhân thân xấu, gây mất niềm tin của quần chúng nhân dân. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy cần phạt bổ sung bị cáo cấm đảm nhiệm công việc liên quan đến địa chính xây dựng đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Bị cáo phạm tội không có mục đích vụ lợi, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Đối với ông Hỷ Văn N, sinh năm 1979, trú tại thôn T, xã Q, huyện L (Phó chủ tịch UBND xã Q), ông Nguyễn Trọng V, sinh năm 1959, trú tại tổ dân phố Q, thị trấn C, huyện L (nguyên là Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L), ông Lê Bá T1, sinh năm 1967, trú tại thôn T, xã Q, huyện L (nguyên là Phó Chủ tịch UBND huyện L), là những người đã ký các văn bản, giấy tờ liên quan trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất trên cho ông Nguyễn Duy H3, quá trình điều tra xác định ông N, ông V, ông T1 không biết các tài liệu do H thiết lập trong hồ sơ là giả mạo, những người này không có mục đích vụ lợi khi ký vào các tài liệu trong hồ sơ trên. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Duy H3 không gây ra hậu quả thiệt hại gì, do đó cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với ông N, ông V và ông T1 là có căn cứ.

[9] Về vật chứng: Đối với các tài liệu trong hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Duy H3 đã thu giữ, ngày 26/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành trả lại các tài liệu không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Mạnh H cho Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L. Riêng các tài liệu (bản gốc) gồm: Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất đề ngày 06/6/2019; Biên bản về việc niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Duy H3 tại thôn T, xã Q đề ngày 08/6/2019; Biên bản về việc kết thúc công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Duy H3 tại thôn T, xã Q đề ngày 24/6/2019; Biên bản thẩm định hồ sơ cấp GCN quyền sử dụng đất đề ngày 31/7/2019 được lưu trong hồ sơ vụ án

Về trách nhiệm dân sự: Ông Ngọ Xuân T2, đại diện UBND huyện L và UBND xã Q không yêu cầu bồi thường gì. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[12] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phạm tội nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2, 5 Điều 359; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 56 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H 03 năm tù về tội “Giả mạo trong công tác”. Tổng hợp với mức hình phạt 13 năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số 109/2023/HSST ngày 12/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt của cả hai bản án là 16 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 13/6/2022).

Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Nguyễn Mạnh H đảm nhiệm công việc liên quan đến địa chính xây dựng trong thời hạn 01 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Tổng hợp hình phạt bổ sung với bản án hình sự sơ thẩm số 109/2023/HSST ngày 12/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang: Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt bổ sung của cả hai bản án: Cấm bị cáo Nguyễn Mạnh H đảm nhiệm công việc liên quan đến địa chính xây dựng trong thời hạn 03 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - CQCSĐT Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã nơi bị cáo cứ trú;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Văn phòng và hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Phan Văn Thể

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (giả mạo trong công tác)

  • Số bản án: 151/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giả mạo trong công tác)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Năm 2019, Nguyễn Mạnh H là cán bộ địa chính xây dựng của UBND xã Q, huyện L được phân công thụ lý, lập hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Duy H3, sinh năm 1970, trú tại thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang đối với thửa đất số 256, tờ bản đồ số 151 có địa chỉ tại thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Để hoàn thành nhiệm vụ được giao đúng thời hạn, H không thực hiện việc lấy ý kiến dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất của ông H3; không tiến hành việc niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ và kết thúc công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà tự thiết lập và giả mạo chữ ký của ông Ngọ Xuân T2 (là Trưởng thôn T) trong các biên bản gồm: Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất đề ngày 06/6/2019; Biên bản về việc niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Duy H3 tại thôn T, xã Q đề ngày 08/6/2019; Biên bản về việc kết thúc công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Duy H3 tại thôn T, xã Q đề ngày 24/6/2019; Biên bản thẩm định hồ sơ cấp GCN quyền sử dụng đất đề ngày 31/7/2019.”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger