|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 151/2024/HS-ST
Ngày: 21-11-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Dũng
2. Bà Đỗ Thị A
– Thư ký phiên tòa: Bà Trà Thị Thúy Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Tuyết Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 139/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Thanh C (tên gọi khác: Lê Văn T, Ngô Văn D, Lê Văn S), sinh ngày: 01/5/1962 tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A đường T, phường A, quận B, Thành phố Cần Thơ; Nơi cư trú: E Lô R, Đ, Phường 1, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn S1 (chết) và bà: Nguyễn Thị B (chết); Vợ: Nguyễn Thị L; bị cáo có 02 lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 1995; tiền án: Ngày 21/9/2022, “Trộm cắp tài sản” bị Tòa án nhân dân Quận 5 xử phạt 01 năm 06 tháng tù, theo Bản án số 14/2023/HS-ST, bị cáo chấp hành án đến ngày 07/02/2024 hết án tha; tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 09/02/1977, bị Công an Q bắt về hành vi “Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân”, qua xác minh không có hồ sơ lưu trữ đối với trường hợp Lê Thanh C (Lê Văn T). Ngày 22/4/1978, Công an Thành phố H bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản công dân”, qua xác minh không rõ hình thức xử lý. Ngày 24/7/1984, Công an Thành phố H bắt về hành vi “Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân”. Ngày 08/10/1985 Ủy ban nhân dân Thành phố H ra Quyết định số 4567/QĐ về việc đưa đi tập trung cải tạo thời hạn 03 năm tại Trại giáo dưỡng T. Tiến hành xác minh không tìm thấy Quyết định số 4567/QĐ đưa Lê Văn T (Lê Thanh C) và từ 08/10/1985 đến 31/12/1988 Trại giáo dưỡng Tống Lê Chân không tiếp nhận người tên Lê Văn T được đưa đến chấp hành hình phạt tập trung cải tạo hoặc chấp hành án. Ngày 19/9/1987, Công an Q1 bắt về hành vi “Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân”. Qua xác minh không có thông tin về Ngô Văn D (Lê Thanh C) trong hệ thống lưu trữ nên không xác định được hình thức xử lý. Ngày 31/5/1988, cướp giật tài sản của công dân, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân”, theo Bản án số 84/HS-ST ngày 21/02/1988. Qua xác minh tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh không có thông tin về bản án trên. Ngày 27/11/1991, Công an Q2 bắt về hành vi “Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân”. Qua xác minh Công an Q2 không tìm thấy thông tin xử lý do tài liệu bị thất lạc. Ngày 24/12/2011, trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 09/2013/HSST ngày 10/01/2013. Bị cáo đã thi hành xong phần án phí vào ngày 19/02/2013; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024 tại Nhà tạm giữ Công an Q3.
(Bị cáo có mặt).
Bị hại: Bà Phan Thị L1, sinh năm 1971 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 5/2024, Lê Thanh C gặp Nguyễn Văn B1, cư ngụ: A Hòa Bình, Phường A, quận N, Thành phố Cần Thơ, tại Chùa B, Thành phố C, tỉnh An Giang, sau đó cả hai lấy số điện thoại của nhau để khi nào đi trộm tài sản thì sẽ rủ cùng nhau đi.
Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 11/6/2024, Nguyễn Văn B1 đón xe ôtô khách từ Thành phố Cần Thơ lên Thành phố Hồ Chí Minh, mục đích tìm người có tài sản sơ hở để lấy trộm. Khi đến V, địa chỉ số D D, Phường A, Quận A, B1 gọi điện thoại cho C rủ đi lấy trộm tài sản. Lúc này, C cũng đang ở V nên báo B1 biết. B1 đi vào Viện Tim gặp C và cả hai thống nhất với nhau cùng đi vào Viện Tim tìm người có tài sản sơ hở để lấy trộm, nếu C lấy trộm tài sản thì B1 sẽ là người cảnh giới, che chắn và ngược lại, sau khi chiếm đoạt được tài sản sẽ đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài.
Sau khi thống nhất, B1 và C đi vào giả vờ là người bệnh bốc số đăng ký khám bệnh, tìm cơ hội trộm tài sản. B1 phát hiện bà Phan Thị L1 có để một chiếc điện thoại di động bên túi trái áo khoác; B1 và C áp sát tiếp cận bà L1; C đứng che chắn, cảnh giới cho B1 đưa tay trái móc lấy chiếc điện thoại di động trong túi trái của bà L1. Sau khi lấy được điện thoại, C, B1 di chuyển mỗi người một hướng tránh bị phát hiện. B1 cầm chiếc điện thoại đi ra ghế đá trong khuôn viên Viện T1 ngồi và tháo sim điện thoại ra thì anh Bùi Quốc T2 là bảo vệ Viện Tim, qua xem màn hình camera an ninh phát hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của B1 và C đã bàn giao C và B1 cùng vật chứng cho Công an P, Quận A lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q3 xử lý
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q3 đã yêu cầu định giá tài sản. Kết luận định giá tài sản số 1213/KL-HĐĐGTS ngày 27/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân Quận A xác định: 01 chiếc điện thoại di động hiệu S3 A11, màu đen trị giá 800.000 đồng
Tại Cơ quan điều tra, Lê Thanh C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung camera ghi hình tại trước cổng Viện Tim Thành phố V và lời khai của bị hại.
Đối với Nguyễn Văn B1, lúc 05 giờ 40 phút ngày 24/7/2024 Nguyễn Văn B1 chết do bệnh lý (phù phổi) nên ngày 12/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q3 đã ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với Nguyễn Văn B1.
Vật chứng vụ án:
- - 01 chiếc điện thoại di động Samsung A11 màu đen của bà Phan Thị L1.
- - 01 áo khoác dài tay có mũ, 01 quầm jean dài màu xanh, 01 túi đeo chéo màu đen, 01 đôi dép màu nâu - là trang phục Nguyễn Văn B1 mặc khi phạm tội.
- - 01 áo sơ mi carô tay ngắn màu xanh dương nhạt, 01 quần tây dài màu xám, 01 đôi giày, màu đen - là trang phục bị cáo C mặc khi phạm tội.
- - 01 Điện thoại di động Nokia 3310 màu xanh, thu giữ của bị cáo C; 01 Điện thoại di động Samsung Galaxy A23, thu giữ của Nguyễn Văn B1 sử dụng để liên lạc cùng nhau phạm tội.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.
- 01 xe môtô biển số: 59N2-534.02, số máy: LJK03E-7507399, số khung: LRLHJK032XMZ002044. Kết quả giám định số máy, số khung của xe không thay đổi; Xác minh xe do anh Nguyễn Hoàng S2, cư ngụ: A B, Phường H, Quận D, đứng tên đăng ký. Anh S2 khai đã bán chiếc xe trên cho cô ruột là bà Nguyễn Thị L, cư ngụ: 534B Lô R, Đ, Phường 1, Quận D, với giá 28.000.000 đồng, không làm thủ tục công chứng và sang tên. Bà Nguyễn Thị L, là vợ của bị cáo Lê Thanh C, khai vào ngày 11/6/2024 ông C điều khiển xe môtô biển số: 59N2-534.02 đi khám bệnh tại Viện Tim Thành phố V, bà L không biết việc ông C điều khiển xe môtô trên làm phương tiện để đi trộm tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q3 đã xử lý vật chứng trả chiếc xe môtô biển số: 59N2-534.02 cho bà Nguyễn Thị L.
Về dân sự: Bà Phan Thị L1 yêu cầu được nhận lại chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A11 màu đen.
Tại Bản Cáo trạng số 133/CT-VKSQ10 ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Bị cáo Lê Thanh C về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- - Bị cáo là người cao tuổi nhưng từ chối làm đơn đề nghị được miễn án phí hình sự sơ thẩm mà đồng ý chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- - Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội, bị hại và nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Lê Thanh C từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, phạt tiền bổ sung 5.000.000 đồng và đề nghị xử lý vật chứng.
- - Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
- - Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q3, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q3, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Lê Thanh C đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục có hành vi lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của bị hại trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi lấy trộm chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A11, màu đen trị giá 800.000 đồng. Do vậy, bị cáo Lê Thanh C bị truy tố và xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với Nguyễn Văn B1 đã chết vào ngày 24/7/2024 do bệnh lý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q3 đã ra Quyết định đình chỉ điều tra đối với Nguyễn Văn B1.
[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có quá trình nhân thân không tốt nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bổ sung bị cáo một số tiền nộp ngân sách nhà nước.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi giao trả cho bị hại nên thiệt hại không lớn. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về trách nhiệm dân sự: Không có gì để Hội đồng xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A11 màu đen của bà Phan Thị L1. Xét thấy đây là tài sản của bị hại do bị cáo Lê Thanh C chiếm đoạt. Do vậy Hội đồng xét xử trả lại cho bà Phan Thị L1.
Đối với 01 áo khoác dài tay có mũ, 01 quầm jean dài màu xanh, 01 túi đeo chéo màu đen, 01 đôi dép màu nâu của Nguyễn Văn B1. Xét thấy đây là tài sản không liên quan đến việc phạm tội nhưng không có giá trị nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 áo sơ mi carô tay ngắn màu xanh dương nhạt, 01 quần tây dài màu xám, 01 đôi giày, màu đen-là trang phục bị cáo C mặc khi phạm tội. Xét thấy đây là tài sản không liên quan đến việc phạm tội nhưng không có giá trị, bị cáo C không đồng ý nhận lại nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 ĐTDĐ Nokia 3310 màu xanh, thu giữ của bị cáo C; 01 ĐTDĐ Samsung Galaxy A23, thu giữ của Nguyễn Văn B1. Xét thấy đây là tài sản bị cáo C và Nguyễn Văn B1 sử dụng để liên lạc rủ nhau phạm tội nên Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1, 5 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử phạt bị cáo Lê Thanh C 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2024.
Phạt bổ sung bị cáo Lê Thanh C 5.000.000 (năm triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.
Trả lại cho bà Phan Thị L1 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A11 màu đen.
Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác dài tay có mũ, 01 quầm jean dài màu xanh, 01 túi đeo chéo màu đen, 01 đôi dép màu nâu, 01 áo sơ mi carô tay ngắn màu xanh dương nhạt, 01 quần tây dài màu xám, 01 đôi giày, màu đen.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động Nokia 3310 màu xanh và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A23.
(Tình trạng vật chứng: Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/10/2024 giữa Công an Q3 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).
Buộc bị cáo Lê Thanh C chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án;
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Quyết |
Bản án số 151/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 151/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh Châu phạm tội Trộm cắp tài sản
