Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số:151/2024/HSST

Ngày: 28-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chánh Bổn và ông Hoàng Luật.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2024 tại Phòng xét xử B Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai, hình thức xét xử trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 164/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 09 năm 2024 tại các điểm cầu:

  1. Điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện Đ gồm có:
  2. Phạm Văn Q, sinh năm 1978, tại Cần Thơ (có mặt)

    Nơi cư trú: tổ A, ấp L, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp:làm thuê;

    Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc:Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn G, sinh năm 1949 (đã chết) và bà Đặng Thị D, sinh năm 1952; anh chị em ruột 06 người, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình; Vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/5/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Đ.

  3. Điểm cầu trung tâm: Hội trường B Tòa án nhân dân huyện Định Quán gồm có:
  4. Bị hại: Anh Đặng Quang M, sinh năm 1995 (có mặt)

    Địa chỉ: tổ G, ấp L, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai

    Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1990 (có mặt)

    Địa chỉ: tổ A, ấp L, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

    Người làm chứng:

    1/ Anh Nguyễn Văn Vũ L1, sinh năm 1995 (có mặt)

    Địa chỉ: tổ G, ấp E, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

    2/ Ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1955 (vắng mặt)

    Địa chỉ: tổ G, ấp E, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn Q và anh Đặng Quang M có mối quan hệ họ hàng với nhau.

Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 07/02/2024, trong lúc anh M đang nhậu tại nhà anh Nguyễn Văn Vũ L1, sinh năm 1995, cư trú tại ấp E, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai thì Q đi đến ngồi nhậu cùng. Trong lúc nhậu, Q đòi con dao M đã lấy trộm thì M yêu cầu Q đưa số tiền 500.000đồng để chuộc dao nên Q và M xảy ra cự cãi với nhau, sau khi uống hết rượu thì Q bỏ về nhà tại ấp L, xã P, huyện V để lấy dao, mục đích quay lại để chém M. Khoảng 16 giờ cùng ngày, khi M đang ngồi nhậu cùng L1 thì Q cầm dao tự chế dài khoảng 40cm, bản rộng 05cm, mũi bằng có cán bằng gỗ quấn băng keo màu đen đi đến. Khi thấy Q đến, M đứng dậy thì Q lao đến cầm dao trên tay phải chém 01 cái M hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái thì M đưa tay trái lên đỡ nên bị trúng mu bàn tay trái. Bị chém, M vùng dậy đứng giằng co và giật dao khỏi tay Q. M và Q tiếp tục ôm và giằng co qua lại từ hiên nhà ra đến hàng rào cách hiên nhà khoảng 2m thì M bị Q vật ngã xuống nền đất, đầu của M bị va trúng cục đá chảy máu. Thấy M bị chém, L1 vào can ngăn thì Q cầm dao bỏ về nhà, tiếp tục sử dụng dao trên để đi rừng. Quá trình sử dụng, Q đã làm mất con dao nói trên.

Ngày 22/02/2024, anh M làm đơn tố cáo hành vi của Q. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ, Q đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

* Hậu quả:

Căn cứ kết luận giám định tổn thương trên người sống số: 0243/KLTTCT-TTPYĐN ngày 23/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận thương tích của nạn nhân Đặng Quang M như sau:

  • Sẹo mặt sau cổ tay trái kích thước 4,5x0,2cm. Tỷ lệ: 01%
  • Sẹo mổ vùng cẳng tay trái kích thước 2,5x0,2cm. Tỷ lệ: 01%
  • Sẹo mổ mu bàn tay trái kích thước 2,5x0,2cm. Tỷ lệ: 01%
  • Sẹo vết thương trùng với vết mổ mu bàn tay trái kích thước 3,5x0,2cm. Tỷ lệ: 01%
  • Sẹo mổ mu bàn tay trái kích thước 1,2x0,3cm. Tỷ lệ: 01%
  • Tổn thương xuất huyết dưới nhện đã điều trị hiện không có di chứng thần kinh. Tỷ lệ: 08%
  • Vết thương cổ tay trái đứt gân duỗi dài ngón cái, gân duỗi chung các ngón, duỗi riêng ngón 5 đã điều trị hiện để lại hạn chế vận động cổ tay trái. Tỷ lệ: 05%
  • Không định tỷ lệ cho xây xát da gối trái đã khỏi hiện tại không để lại dấu vết, không để lại di chứng và không ảnh hưởng chức năng.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác

định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Đặng Quan M1, tại thời điểm giám định là: 18%, áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư.

Căn cứ Kết luận giám định cơ chế tổn thương qua hồ sơ số: 0618/KLGĐ-TTPYĐN ngày 02 tháng 07 năm 2024 của Trung tâm Pháp Y tỉnh Đ, kết luận cơ chế hình thành vết thương, chiều hướng và lực tác động đối với thương tích của anh Đặng Quang M, như sau:

  • Đau đầu, xuất huyết dưới nhện vùng thái dương phải, đỉnh hai bên lượng ít, lều tiểu não hai bên. Tổn thương này do vật tày tác động vào vùng đầu với lực vừa đủ, không rõ vị trí tác động và chiều hướng tác động hoặc va đập vào vật tày với lực vừa đủ có diện phẳng.
  • Vết thương cổ tay trái kích thước khoảng 04 cm. Tổn thương này do vật sắc tác động vào vùng cổ tay trái với vừa đủ hướng phụ thuộc vào tư thế bàn tay khi bị tác động hoặc trong trường hợp nạn nhân bị đối tượng dùng hung khí tác động vào vùng đầu theo phản xạ nạn nhân đưa tay lên đỡ thì có hướng từ trên xuống dưới gây nên.
  • Vết thương bàn tay trái kích thước khoảng 02 cm. Tổn thương này do vật sắc tác động vào vùng mu bàn tay trái với vừa đủ và hướng phụ thuộc vào tư thế bàn tay khi bị tác động hoặc trong trường hợp nạn nhân bị đối tượng dùng hung khí tác động vào vùng đầu và theo phản xạ nạn nhân đưa tay lên đỡ thì có hướng từ trên xuống dưới gây nên.
  • Xây xát da vùng bụng. Tổn thương này do vật sắt tác động vào thành bụng trái với lực vừa đủ theo hướng từ trước ra sau và từ trên xuống dưới hoặc song song với bề mặt da gây nên.
  • Xây xát da gối trái đã khỏi không để lại dấu vết. Tổn thương này do vật tày tác động vào vùng gối trái với lực vừa đủ hoặc gối trái trượt trên mặt phẳng với lực vừa đủ.

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0243/KLTTCT –TTPYĐN ngày 23/4/2024 kết luận: Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đặng Quang M-1995 tại thời điểm giám định là 18%.

Theo cáo trạng số 298/CT-VKS-ĐQ ngày 11/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Phạm Văn Q về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm đ, khoản 2, Điều 134; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 của BLHS xử phạt bị cáo Q mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
  • Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo Q tự nguyện đồng ý bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại M số tiền là 13.000.000đồng.
  • Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý về tội danh. Về hình phạt bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tội danh:
  2. Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 07/02/2024, tại ấp E, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, Phạm Văn Q đã có hành vi dùng 01 dao tự chế có đặc điểm dài 40cm, bản rộng 05cm, mũi bằng có cán bằng gỗ (là hung khí nguy hiểm) chém anh Đặng Quang M gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 18%. Như vậy hành vi của Q đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 134 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là đúng người đúng tội, có căn cứ pháp luật.

  3. Về tình tiết tăng nặng:
  4. không có.

  5. Về tình tiết giảm nhẹ:
  6. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đại diện gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục 01 phần hậu quả, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, là người có nhân thân tốt, phạm tội lần, có trình độ học vấn thấp nên sự hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

  7. Căn cứ quyết định hình phạt:
  8. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo đã có thái độ hung hăng, coi thường pháp luật, dùng hung khí nguy hiểm là con dao gây tổn hại cho sức khỏe của bị hại, lỗi cố ý thuộc về bị cáo quy định tại điểm a, khoản 1 điều này. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử với mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi của bị cáo gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục. Tuy nhiên do bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ 01 phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước, quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.

  9. Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:
    • - Về xử lý vật chứng: 01 dao tự chế có đặc điểm dài 40cm, bản rộng 05cm, mũi bằng có cán bằng gỗ quấn băng keo màu đen được bị can sử dụng để chém gây thương tích cho anh M. Sau khi gây án, bị cáo Q đã làm mất con dao nói trên. Cơ quan điều tra đã tiến hành thông báo truy tìm nhưng chưa thấy, khi nào tìm thấy sẽ xử lý sau.
    • - Về trách nhiệm dân sự:
    • Sau khi sự việc xảy ra, bị hại Đặng Quang M yêu cầu bị cáo Phạm Văn Q phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe với số tiền là 20.000.000đồng, đại diện gia đình bị cáo Q đã bồi thường số tiền 7.000.000đồng cho bị hại M. Tại phiên tòa Q tự nguyện tiếp tục đồng ý bồi thường thiệt hại cho M số tiền là 13.000.000đồng thì M cũng đồng ý nên ghi nhận.

  10. Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán:
  11. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người

có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  1. Về án phí:
  2. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 650.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  3. Xét quan điểm của Viện kiểm sát về mức hình phạt chưa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 2, Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
  • Điều 584, 585, 586, 588, 590, Điều 357, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
  • Điểm a, khoản 1, Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Điểm đ, khoản 2, Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. 1.1 Xử phạt bị cáo Phạm Văn Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/05/2024.

  3. Trách nhiệm dân sự:
  4. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Phạm Văn Q đồng ý bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại anh Đặng Quang M số tiền là 13.000.000đồng (Mười ba triệu đồng).

    Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quanthi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơnyêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trảcho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành áncòn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suấtquy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  5. Về án phí:
  6. Bị cáo Phạm Văn Q phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 650.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng số tiền là 850.000đồng (tám trăm năm mươi nghìn đồng).

    Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. Báo cho bị cáo Q, bị hại M, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà L biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán;
  • - CQCSĐT Công an huyện Định Quán;
  • - CQ THA hình sự Công an huyện Định Quán;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo; Bị hại; Người liên quan.
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2024/HSST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 151/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger