Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27-9-2024

“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

  • - Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Lam

    Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể, ông Nguyễn Sỹ Quân.

  • - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 139/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 134/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 72/2024/QÐST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoài N, sinh năm 1975; địa chỉ: Số nhà D, đường H, tổ dân phố F, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Có đơn xin vắng mặt,

  • - Bị đơn: Chị Võ Thị Hồng L, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ dân phố F, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

Hiện nay chị L đang lao động tại Cộng Hòa Liên Bang Đ, nhưng không có địa chỉ cụ thể.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, anh Nguyễn Hoài N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh N và chị Lê S thời gian tìm hiểu đã tự nguyện tiến hành đăng ký kết hôn với nhau ngày 20/3/2003, tại ủy ban nhân dân phường N, thị xã H (nay là thành phố H), tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn vợ chồng chỉ sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do cuộc sống khó khăn về kinh tế, bất đồng quan điểm, mỗi người thường có một suy nghĩ khác nhau nên thường xuyên cãi vã nên đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay.

Từ hoàn cảnh thực tế sống xa nhau với tính cách, suy nghĩ khác nhau nên vợ chồng không có cơ hội hàn gắn tình cảm mà ngày càng xa cách. Cảm thấy cuộc sống chung của vợ chồng trở thành gánh nặng. Nay anh N nhận thấy mẫu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy anh N làm đơn đề nghị toà án giải quyết cho anh N được ly hôn với chị L

- Về con chung: Anh N và chị L có 02 con chung tên Nguyễn Quốc H, sinh ngày 01/02/2004 và Nguyễn Quốc T, sinh ngày 27/7/2005 hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, chị Võ Thị H1 Lê do đang lao động tại nước ngoài nên không có mặt để làm việc với Tòa án. Tại biên bản lấy lời khai ngày 30/7/2024 và ngày 05/8/2024, Toà án đã tiến hành lấy lời khai của bà Mai Thị M, sinh năm 1939; địa chỉ: Số D đường H, tổ dân phố F, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh là mẹ đẻ của chị Võ Thị Hồng Lê. Qua quá trình làm việc bà M cho biết các thông tin về vụ án bà đã gửi cho chị Lê B và chị đã nắm bắt được đầy đủ thông tin. Qua trao đổi với gia đình thông qua bà M, chị Lê M1 bà M trình bày lại ý kiến của chị Lê N1 sau:

- Về hôn nhân chị L đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh N

- Về con chung: Chị L và anh N có 02 con chung tên Nguyễn Quốc H, sinh ngày 01/02/2004 và Nguyễn Quốc T, sinh ngày 27/7/2005 hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Hiện tại, do đang làm việc ở nước ngoài nên chị L không thể về tham gia giải quyết vụ án tại Tòa án và chị L không cung cấp được địa chỉ của chị tại nước ngoài cho Toà án. Đồng thời chị Lê N2 bà M giao nhận các văn bản của Toà án gửi cho chị L để bà M thông tin lại cho chị Lê B.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Hoài N.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Hoài N được ly hôn chị Võ Thị Hồng Lê .

- Về con chung: Không xem xét giải quyết

- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Chị Võ Thị Hồng L có địa chỉ trước khi xuất cảnh: Phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh hiện đang lao động tại Cộng hòa Liên bang Đ, không có địa chỉ cụ thể. Tại văn bản số 686/PA08-Đ1 ngày 18 tháng 7 năm 2024 của phòng PA08- Công an tỉnh H thể hiện: Chị Võ Thị Hồng L, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ dân phố F, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh lần gần nhất ngày 25/5/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh quy định tại Điều 37; Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn đã nhận được thông tin về các văn bản của Toà án, yêu cầu cung cấp địa chỉ của bị đơn tại nước ngoài. Qua biên bản lấy lời khai ngày 30/7/2024 và ngày 05/8/2024 người thân của bị đơn không cung cấp được địa chỉ tại nước ngoài của bị đơn. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao. Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Hoài N và chị Võ Thị Hồng L theo quy định.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Về hôn quan hệ hôn nhân: Anh N và chị Lê tự N3 kết hôn, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 23-2003 do Uỷ ban nhân phường N, thị xã H (nay là Thành phố H) cấp ngày 20/3/2003 nên hôn nhân giữa anh N và chị L là hôn nhân hợp pháp.

Anh N cho rằng vợ chồng mâu thuẫn là do cuộc sống khó khăn về kinh tế, bất đồng quan điểm, mỗi người thường có một suy nghĩ khác nhau nên thường xuyên cãi vã nên đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay.

Anh N và chị L là vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương nhau, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau và cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình. Anh N và chị Lê X ra mâu thuẫn nhưng giữa anh N và chị L không có thiện chí hàn gắn. Vợ chồng không còn quan tâm nhau, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, cho anh N ly hôn với chị L.

[2.2] Về con chung: Anh N và chị L có 02 con chung tên Nguyễn Quốc H, sinh ngày 01/02/2004 và Nguyễn Quốc T, sinh ngày 27/7/2005 hiện nay đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết

[2.4] Về án phí: Anh N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; Điều 147; Điểu 227; Điều 228; Điều 273; Điều 469; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 8; Điều 9; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân gia đình. Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Hoài N, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Hoài N được ly hôn chị Võ Thị Hồng Lê

  2. Về con chung: Không xem xét giải quyết.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết

  4. Về án phí: Anh Nguyễn Hoài N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng anh N đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0000014 ngày 11/7/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh nên được khấu trừ.

  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND phường Nam Hà, thành phố Hà Tĩnh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Bùi Văn Lam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn

  • Số bản án: 151/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Nam và chị Lê sau thời gian tìm hiểu đã tự nguyện tiến hành đăng ký kết hôn với nhau ngày 20/3/2003, tại uỷ ban nhân dân phường Nam Hà, thị xã Hà Tĩnh (nay là thành phố Hà Tĩnh), tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn vợ chồng chỉ sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do cuộc sống khó khăn về kinh tế, bất đồng quan điểm,
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger