|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI Bản án số: 151/2023/HSST Ngày: 20/11/2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đức Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Xuân Hưởng
Bà Lý Thanh Thuỷ
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 149/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: ĐỖ TRUNG K1, tên gọi khác: Không;
Sinh ngày 02/4/2001 tại thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã Đ, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Xuân K (đã chết); Con bà Nguyễn Thị T; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến: Anh Vũ Văn T1, địa chỉ: Tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 30/8/2023, do có nhu cầu đi mua ma túy về để sử dụng, nên Đỗ Trung K1 đã một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24B1- 212.83 đi đến khu vực cầu S thuộc tổ F, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai, tại đây K1 gặp một người phụ nữ không quen biết đứng ở ven đường và mua của người phụ nữ này 01 hộp giấy, bên trong có gói nilon màu xanh chứa có 40 viên ma túy hồng phiến với giá 2.000.000 đồng và cất giấu số ma tuý vừa mua được vào túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi đến khu vực gầm cầu P, thành phố L. Tại đây, K1 dừng xe lại mở hộp giấy chứa ma túy và lấy 09 viên ma túy cho vào một mảnh giấy bạc, số ma túy còn lại, K1 gói lại và cho vào một hộp giấy cất vào trong túi quần bên phải. Sau đó, Đỗ Trung K1 điều khiển xe mô tô đi tìm nơi để sử dụng. Đến khoảng 0 giờ 55 phút ngày 31/8/2023, Đỗ Trung K1 đang dựng xe ở ven đường bờ kè sông H thuộc tổ B, phường L, thành phố L thì bị tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố L phối hợp với Công an phường L phát hiện bắt quả tang. Đỗ Trung K1 đã tự giác giao nộp từ trong túi quần bên phải đang mặc 01 gói giấy bạc, bên trong có 09 viên nén hình tròn màu hồng, 01 hộp giấy, bên trong có 01 túi nilon màu xanh chứa 31 viên nén hình tròn màu hồng. Đồng thời tạm giữ của bị cáo Đỗ Trung K1: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS, biển kiểm soát 24B1 – 212.83 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone .
Tại bản Kết luận giám định số 295/GĐMT 06/9/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh L đã kết luận: Mẫu M1: 0,92 gam; Mẫu M2: 3,06 gam các viên nén hình tròn, màu hồng có đặc điểm giống nhau, trên một mặt của mỗi viên nén đều được dập chìm chữ “WY” gửi giám định là loại chất ma túy Methamphetamine; Tổng khối lượng ma tuý là 3,98 gam; Cơ quan giám định đã trích 1 gam để giám định, hoàn lại Cơ quan trưng cầu 2,98 gam.
Cáo trạng số 146/CT-VKSSD, ngày 01/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố Đỗ Trung K1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo mức án tù: Từ 03 năm đến 03 năm 6 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Về vật chứng, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 2,98 (hai phẩy chín tám) gam Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định. Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, số imei: 353289078761774 đã qua sử dụng của bị cáo để đảm bảo công tác thi hành án. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Trung K1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với nội dung luận tội của Kiểm sát viên. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người chứng kiến anh Vũ Văn T1 vắng mặt tại phiên toà, tuy nhiên các lời khai có trong hồ sơ của anh T1 đều phù hợp với diễn biến, sự việc mà anh chứng kiến khi tổ công tác kiểm tra, lập biên bản và niêm phong vật chứng đối với Đỗ Trung K1 tại khu vực tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai như nội dung bản cáo trạng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan tiến hành tố tụng thành phố L, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh và hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định: Ngày 30/8/2023, Đỗ Trung K1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 3,98 gam chất ma tuý là loại Methamphetamine bị thu giữ ở trên người khi đang đứng ở ven đường thuộc tổ B, phường L, thành phố L với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Đỗ Trung K1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1.“Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)....
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Bị cáo Đỗ Trung K1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì mục đích muốn sử dụng ma túy cho bản thân mà bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ ma túy trái pháp luật. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác. Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội đồng thời đấu tranh và phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Trung K1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về nhân thân: Bị cáo Đỗ Trung K1 là người đã sử dụng trái phép chất ma túy, tại thời điểm bị bắt đưa đi xét nghiệm, kết quả xét nghiệm cho thấy trong cơ thể của bị cáo có chứa chất ma tuý. Bị cáo Đỗ Trung K1, chưa có tiền án, tiền sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, bị cáo là lao động tự do, là đối tượng nghiện ma túy không có thu nhập ổn định. Vì vậy không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS, biển kiểm soát 24B1 – 213.83 đã tạm giữ của Đỗ Trung K1. Cơ quan điều tra đã chứng minh làm rõ chiếc xe mô tô trên là của anh Nguyễn Thanh S (sinh năm 1992, trú tại thôn C, xã Đ, thành phố L) là anh cùng cha khác mẹ với bị can Đỗ Trung K1. Anh Nguyễn Thanh S không biết Đỗ Trung K1 mượn xe để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh S là đúng quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
- Đối với 2,98 (Hai phẩy chín tám) gam Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng K2 Công an tỉnh L. Trên một mặt của bì thư ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Đỗ Trung K1 tại tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai ngày 31/8/2023”. Xét thấy đây là chất ma tuý thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, số imei: 353289078761774 đã qua sử dụng, là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên bị cáo còn phải thi hành khoản tiền án phí. Vì vậy, tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
[7] Các vấn đề khác:
- Đối với người phụ nữ đã bán ma tuý cho bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên toà không làm rõ được tên tuổi, lai lịch, địa chỉ cụ thể của đối tượng ngày nên chưa có căn cứ để xử lý. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Đỗ Trung K1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đỗ Trung K1 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/8/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 2,98 (Hai phẩy chín tám) gam Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng K2 Công an tỉnh L. Trên một mặt của bì thư ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Đỗ Trung K1 tại tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai ngày 31/8/2023”.
- Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, số imei: 353289078761774 đã qua sử dụng của bị cáo, để đảm bảo công tác thi hành án.
Xác nhận vật chứng trên, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã chuyển giao sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/11/2023.
3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Đỗ Trung K1 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Đức Thịnh |
Bản án số 151/2023/HSST ngày 20/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 151/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Trung K1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
