Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VIỆT YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2024/HS-ST

Ngày 18-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Ngôn và ông Hoàng Văn Tấn.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Ánh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Tươi, Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, Toà án nhân dân thị xã Việt Yên xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 131/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Lương Văn T, sinh năm 1995; Giới tính: Nam.

Tên gọi khác: không.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm P, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không; Đảng, đoàn thể, chính quyền: không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12.

Con ông: Lương Văn L, sinh năm 1969.

Con bà: Lương Thị T1, sinh năm 1968.

Anh, chị em: Gia đình có một mình bị cáo là con.

Vợ: Ngân Thị N, sinh năm 2001 (đã ly hôn).

Con: Bị cáo có 01 con, sinh năm 2019.

Tiền sự, tiền án, nhân thân: không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2024 đến nay; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh B.

(có mặt tại phiên toà)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1996. Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

* Người làm chứng:

  • - Chị Nguyễn Thị Khánh L1, sinh năm 1997. Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
  • - Anh Nguyễn Mạnh L2, sinh năm 1993. Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 30 phút ngày 05/4/2024, tại khu vực đường gom dân sinh thuộc tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, Công an phường N, thị xã V phát hiện, bắt quả tang Lương Văn T, sinh năm 1995, trú tại xóm P, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Tang vật thu giữ: thu tại lòng bàn tay phải của Tuy 01 gói giấy bạc, có mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng, bên trong chứa chất cục bột màu trắng, T khai là ma túy Heroin, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT”. Sau khi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tuy xong, Công an phường N, đã tiến hành giao Tuy cùng tài liệu liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V điều tra theo thẩm quyền.

Cùng ngày 05/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V ra Quyết định trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh B giám định chất ma túy đối với số vật chứng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT” thu giữ khi bắt quả tang Tuy.

Tại kết luận giám định số 783/KL-KTHS ngày 10/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: “Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT” được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy bạc có mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng là ma túy, có khối lượng 0,241 gam, loại Heroine (H)” .

Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận: Lương Văn T là người sử dụng ma túy. Ngày 03/4/2024, Lương Văn T thuê phòng ở trọ tại nhà trọ của của anh Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1996, ở tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để xin việc làm. Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 05/4/2024, T đi bộ đến khu vực đường gom dân sinh ở cạnh khu vực cây xăng “Y” thuộc địa phận tổ dân phố H, phường N, thị xã V mua của một người đàn ông không biết họ tên, địa chỉ 01 gói ma túy đựng bằng giấy bạc bên trong có chứa chất cục bột màu trắng là ma túy Heroine với số tiền 500.000 đồng. Sau đó, T cầm gói ma túy trên tay phải đi bộ quay về phòng trọ để sử dụng. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, T cầm theo gói ma túy mua được đi về đến đoạn đường đầu ngõ vào nhà trọ của

Tuy thì bị Công an phường N, thị xã V phát hiện bắt quả tang, thu giữ gói ma túy nêu trên.

Đối với số ma túy còn lại sau giám định, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số 139/CT-VKS ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Lương Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Lương Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị HĐXX:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Lương Văn T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 05/4/2024.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thuộc hộ cận nghèo và là dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì ký hiệu “QT” được niêm phong bằng hình dấu của Phòng K - Công an tỉnh B, có chữ ký cùng tên của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định bên trong có chứa 0,208 gam ma túy Heroine (còn lại sau giám định).

Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ cận nghèo và là dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 05/4/2024, tại đoạn đường dân sinh thuộc tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, Lương Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,241 gam ma túy Heroine, mục đích để sử dụng thì bị Công an phường N, thị xã V đã phát hiện, bắt quả tang cùng với số ma túy trên rồi chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V để điều tra theo thẩm quyền. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Lương Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. Xét tính chất, mức độ, hành vi: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật trị an xã hội. Ma tuý là hiểm hoạ xã hội, làm sói mòn đạo đức và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự, cần buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội bị cáo gây ra để cải tạo giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.
  4. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy:

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

    Về Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  5. Từ những phân tích trên, cần xử phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định để nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
  6. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thuộc hộ cận nghèo và là dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

    Đối với người đàn ông bán ma túy, bị cáo khai không biết là ai, Cơ quan điều tra đã xác minh tại địa điểm bị cáo khai mua ma túy nhưng không xác định được là ai nên tách ra để tiếp tục điều tra và đề nghị xử lý sau.

  7. Về xử lý vật chứng:

    Đối với phong bì đựng số ma túy còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu huỷ.

[8] Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ cận nghèo và là dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí cho bị cáo.

[9] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Lương Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 05/4/2024.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì ký hiệu “QT” được niêm phong bằng hình dấu của Phòng K - Công an tỉnh B, có chữ ký cùng tên của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định bên trong có chứa 0,208 gam ma túy Heroine (còn lại sau giám định).
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  4. Căn cứ Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND TX Việt Yên, t. Bắc Giang;
  • - Công an TX Việt Yên, t. Bắc Giang;
  • - Cơ quan THAHS TX Việt Yên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - CCTHADS TX Việt Yên, t. Bắc Giang;
  • - Bị cáo (qua Trại tạm giam);
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 151/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger