Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2024/HS-ST

Ngày: 18/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Quàng Văn Minh
  2. Ông Mùa A Phềnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Hoàng Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 167/2024/TL-HSST ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Công T; Tên gọi khác: Không có; Sinh năm: 1964, tại Thái Bình; Nơi cư trú trước khi bị bắt: Thôn H, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Công T1 (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị N; Vợ: Bùi Thị H (Đã ly hôn năm 2003); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/11/2003 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt Phạm Công T 20 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 27/4/2018, T chấp hành xong án phạt tù, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/3/2024, sau đó bị tạm giam cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 05/3/2024, Phạm Công T đi nhờ xe máy của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ từ khu vực thôn H, xã T, huyện Đ đến khu vực đường thuộc thôn T, xã T, huyện Đ, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, T xuống xe và ngồi ở ven đường một lúc thì gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 50 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Mua xong, T cầm gói Heroine trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ về nhà. Hồi 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang đi bộ trên đường thuộc bản Noong Vai, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện Đ yêu cầu kiểm tra, T liền cho gói Heroine vào miệng rồi nuốt xuống bụng. Tổ công tác đã đưa T đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ tiến hành nội soi lấy trong bụng của T ra 01 gói nilon màu trắng, bên trong có 02 gói giấy bạc màu vàng, chứa 0,4 gam Heroine. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 05/3/2024 đã xác định: Khối lượng toàn bộ số cục màu trắng nghi Heroine có tổng khối lượng là 0,4 gam, gửi toàn bộ giám định.

Tại Kết luận giám định số: 517/KL-KTHS ngày 12/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Vật chứng thu giữ của Phạm Công T có khối lượng 0,4 gam là chất ma túy: Loại H (H). H1 lại đối tượng giám định, có biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định kèm theo.

Tại biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 13/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ: H1 lại mẫu sau khi giám định là: 0,32 gam được cho vào túi nilon màu trắng và toàn bộ bao bì niêm phong cũ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định trên của phòng K Công an tỉnh Đ.

Về vật chứng của vụ án: Ngày 28/5/2024 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển vật chứng của vụ án sang cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên gồm: 0,32 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu trắng, 02 mảnh giấy bạc màu vàng.

Bản cáo trạng số: 108/CT-VKSHĐB ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Phạm Công T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Công T với mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • * Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,32 gam Heroine hoàn lại sau giám định, 01 mảnh nilon màu trắng, 02 mảnh giấy bạc màu vàng là vật chứng của vụ án.
  • * Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Công T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và bản luận tội của Kiểm sát viên; Thực hiện lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa Phạm Công T khai nhận vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 05/3/2024, tại khu vực bản N, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Phạm Công T có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,4 gam Heroine, mục đích để bản thân sử dụng. T khai nguồn gốc số Heroine này là do T mua của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 50 tuổi (không biết tên, địa chỉ) tại khu vực đường thuộc thôn T, xã T, huyện Đ số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bản luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Phạm Công T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Phạm Công T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bởi nó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Vì vậy, việc truy tố, xét xử và áp dụng mức hình phạt thỏa đáng đối với bị cáo là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Trong vụ án này bị cáo Phạm Công T không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu bởi trước đó bị cáo đã từng có 01 tiền án nhưng đã được xóa án tích, cụ thể: Tại Bản án số: 1723 ngày 25/11/2003 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt Phạm Công T 20 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 27/4/2018, T chấp hành xong án phạt tù và trở về địa phương sinh sống. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sử dụng ma túy từ năm 1995 đến năm 2021 bị cáo tiếp tục tái nghiện, vì muốn có ma túy để phục vụ cho nhu cầu của bản thân nên tiếp tục phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, để thể hiện sự khoan hồng của Đảng, Pháp luật của Nhà nước ta đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi để bị cáo từ bỏ được ma túy sớm trở lại hòa nhập với gia đình và cộng đồng.

Về năm sinh của bị cáo: Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 148/HSST ngày 07/8/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu và Bản án hình sự phúc thẩm số: 1723 ngày 25/11/2003 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội ghi bị cáo Phạm Công T sinh năm 1960. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, căn cứ vào Lý lịch bị can (BL: 55 - 58); Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư của Công an xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (BL: 59); Giấy khai sinh của bị cáo T (BL: 123); Biên bản xác minh ngày 15/5/2024 tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (BL: 128, 129); Công văn số: 36/CCCP-PV06 ngày 20/5/2024 về việc tra cứu so sánh vân tay của Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Đ (BL: 152b); thì có đủ căn cứ xác định bị cáo Phạm Công T sinh năm 1960 và Phạm Công T sinh năm 1964 là cùng một người và có vân tay đồng nhất của cùng một người. Do đó Hội đồng xét xử xác định bị cáo Phạm Công T sinh năm 1964.

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy từ nhiều năm nay, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.

[4] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Đ; Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[5] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử cần: Tịch thu tiêu hủy 0,32 gam Heroine còn lại sau khi giám định, 01 mảnh nilon màu trắng, 02 mảnh giấy bạc màu vàng là vật chứng của vụ án và kèm theo 01 phong bì niêm phong của Phòng K Công an tỉnh Đ.

[6] Về các vấn đề khác: Phạm Công T khai số Heroine trên là do T mua của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 50 tuổi (không biết tên, địa chỉ) tại khu vực đường thuộc thôn T, xã T, huyện Đ nên cơ quan điều tra không có đủ cơ sở để điều tra làm rõ.

[7] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Công T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự Tuyên bố bị cáo Phạm Công T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo: Phạm Công T 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (05/3/2024).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,32 gam Heroine còn lại sau khi giám định, 01 mảnh nilon màu trắng, 02 mảnh giấy bạc màu vàng là vật chứng của vụ án và kèm theo 01 phong bì niêm phong của Phòng K Công an tỉnh Đ.

Vật chứng đã được Công an huyện Đ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/5/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Công T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo Phạm Công T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/6/2024).

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát huyện ĐB;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Điện Biên;
  • - HSNV Công an huyện ĐB;
  • - CQĐT Công an huyện ĐB;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện ĐB;
  • - Bị cáo;
  • - Chi cục Thi hành án DSHĐB;
  • - Toà án tỉnh Điện Biên;
  • - Sở tư pháp tỉnh ĐB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Thị Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 151/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Công Th
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger