Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

NAM

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 151/2024/HS-ST

Ngày: 18-6-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Ngọc.

2. Bà Nguyễn Phước Trinh.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 143/2024/HSST ngày 15/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Thành L (tên gọi khác: không), sinh ngày 06/9/1992; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông: Trương Văn N, sinh năm: 1967 và bà Phạm Thị L1, sinh năm: 1969; A, chị, em ruột: 02 người kể cả bị cáo; Bị cáo có 01 vợ tên Lâm Thanh T, sinh năm: 1994 (đã ly hôn) và 01 con tên Trương Thành S, sinh năm 2014.

- Tiền án: Năm 2020, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt 02(hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 19/2020/HSST ngày12/02/2020. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 22/01/2022;

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân: Năm 2011, bị cáo bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 795/2011/HSPT ngày 14/12/2011. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 31/8/2013.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 20/12/2023, tại trước nhà số B đường T, ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, công an xã P kiểm tra phát hiện thu giữ của Trương Thành L 01 bóp da màu nâu đen, bên trong chứa 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, nghi là ma túy tổng hợp (ma túy đá), 01 điện thoại đi động hiệu S1. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trương Thành L tại ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh không thu giữ gì thêm. Kết quả xét nghiệm L dương tính với ma túy tổng hợp.

Tại cơ quan điều tra, Trương Thành L khai nhận bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2017, loại ma túy tổng hợp (ma túy đá). Năm 2020, bị cáo L bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo bản án số 19/2020/HSST ngày 12/02/2020. Bị cáo chấp hành hình phạt tù tại Trại giam T1 đến ngày 22/01/2022, chấp hành xong hình phạt tù bị cáo về sinh sống tại ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Đầu tháng 12/2023, L tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy đá.

Bộ D sử dụng ma túy và số ma túy trên L khai mua của người thanh niên (không rõ lai lịch) tại khu vực ngã tư T thuộc xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 19/12/2023. Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 20/12/2023, L cho bộ D sử dụng ma túy và gói ma túy đã mua vào vào bóp da, giấu vào túi quần phía trước, bên phải đang mặc rồi đi bộ tìm nơi sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt giữ.

Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện C đã ban hành quyết định trưng cầu giám định số: 1061/QĐ-CSĐT-MT ngày 20/12/2023.

Kết luậm giám định số: 204/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi Trương Thành L và hình dấu Công an xã P, huyện C (ký hiệu mẫu m) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,1863g, loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số: 140/CT-VKS-CC ngày 15 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo Trương Thành L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Trương Thành L thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Trương Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị: Phạt Bị cáo Trương Thành L từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 94/24 có chữ ký niên phong của cán bộ điều tra và giám định viên; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 (một) bóp da màu nâu đen bị cáo sử dụng cất giấu ma túy;

+Đối với 01 điện thoại di động hiệu S1, số imei 1: 353298089378346, số imiei 2: 353299089378344, tại phiên tòa bị cáo không nhận lại nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

* Bị cáo tự bào chữa: Không.

* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên Tòa, bị cáo Trương Thành L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, theo đó có đủ cơ sở xác định:

Vào 13 giờ 00 phút ngày 20/12/2023, tại trước nhà số B, đường T, ấp B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo Trương Thành L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1863 gram ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang, hành vi của bị cáo L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố Bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm, bản thân bị cáo là người đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, nhận thức được điều đó nhưng xuất phát từ mục đích sử dụng Bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà Nước, qua đó đe dọa nghiêm trọng đến an toàn trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Do đó, xét thấy phải xử lý Bị cáo bằng một hình phạt nghiêm để giáo dục riêng, đồng thời phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tính, nay tiếp tục phạm tội, hành vi của bị cáo là tái phạm, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình.

[6] Xét vật chứng vụ án:

- 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 94/24 có chữ ký niên phong của cán bộ điều tra và giám định viên; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 (một) bóp da màu nâu đen. Đây là công cụ phương tiện Bị cáo dùng vào việc phạm tội và những vật cấm lưu hành không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu S1, số imei 1: 353298089378346, số imiei 2: 353299089378344 đã qua sử dụng. Tại phiên tòa bị cáo không đồng ý nhận lại nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

*Đối với người thanh niên tên không rõ lai lịch đã bán chất ma tuý cho bị cáo Trương Thành L, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện C sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau là phù hợp.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt: Bị cáo Trương Thành L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2023.

2. Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mang số vụ 94/24 có chữ ký niên phong của cán bộ điều tra và giám định viên; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 (một) bóp da màu nâu đen.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu S1, số imei 1: 353298089378346, số imiei 2: 353299089378344.

(Vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 447/LNK-ĐCSMT ngày 02/4/2024 và Phiếu nhập kho vật chứng số 103/PNK ngày 08/4/2024).

3. Căn cứ vào Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:

Buộc bị cáo Trương Thành L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện Củ Chi;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Củ Chi
  • - Chi Cục THADS h.Củ Chi;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hồng Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 151/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Thành L - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger