|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 151/2024/HS-ST Ngày 16-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Vân – Nghề nghiệp: Giáo viên
Bà Lương Thị Mai Dung – Nghề nghiệp: Giáo viên.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hậu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu P - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 133/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Tòng Văn Đ, sinh ngày 10 tháng 11 năm 2006 (khi phạm tội bị cáo 17 tuổi 05 tháng) tại tỉnh Sơn La; nơi ĐKHKTT: Bản P, xã B, huyện S, tỉnh Sơn La; nơi sinh sống: Số C L, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 06/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn N và bà Tòng Thị B; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 10/4/2024 cho đến ngày 19/4/2024 chuyển sang tạm giam. Có mặt.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Tòng Văn Đ: Ông Quàng Văn N, sinh năm 1986, nơi ĐKHKTT: Bản Giói B, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên và bà Tòng Thị B, sinh năm 1983, nơi ĐKHKTT: Bản P, xã B, huyện S, tỉnh Sơn La – là bố mẹ đẻ của bị cáo Tòng Văn Đ. Đều vắng mặt.
Người giám hộ do cử của bị cáo Tòng Văn Đ: Bà Đồng Thị L – Hội trưởng Hội phụ nữ xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Xin vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Tòng Văn Đ: Bà Lương Thị T - Trợ giúp viên Pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H. Có mặt.
- Đại diện Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng: Ông Nguyễn Quang H – Chức vụ Bí thư. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Bà Trần Thị B1, ông Lê Minh L1. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 00 phút ngày 10/04/2024, tại đường C thuộc thôn D, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm ma tuý Công an huyện T kết hợp với Công an xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng phát hiện Tòng Văn Đ có biểu hiện cất giấu trái phép chất ma tuý. Tiến hành kiểm tra, lực lượng Công an thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của Tòng Văn Đ đang mặc có 01 túi nilon kích thước 2x3cm, bên trong đều chứa chất bột màu trắng (nghi chất ma túy). Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ các vật chứng trên để điều tra giải quyết.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Tòng Văn Đ tại số C L, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan.
Tại bản Kết luận giám định số 445/KL-KTHS ngày 12/04/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: chất bột màu trắng thu giữ của Tòng Văn Đ khi bắt quả tang là ma túy, có khối lượng 0,17 gam, loại Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, Tòng Văn Đ khai nhận: Do bản thân nghiện ma tuý H1 nên Đ thường xuyên đi mua ma tuý về sử dụng. Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 10/4/2024, Đ một mình từ chỗ ở tại công trường xây dựng số C L, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng thuê xe ôm của một người đàn ông không quen biết chở đến khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng mua ma túy. Khi đến nơi, Đ trả tiền xe ôm hết 60.000 đồng sau đó một mình đi tìm mua ma tuý. Tại đây Đ gặp một người đàn ông không quen biết và mua 01 gói ma tuý Heroine với giá 400.000 đồng. Mua được ma tuý, Đ cất vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi nhờ người vừa bán ma tuý cho Đ chở đến khu vực Vsip T để tìm gặp anh họ. Khoảng 13 giờ 00 phút, khi đi đến khu vực cây xăng trên đường C, thôn D, xã T, T thì người lái xe bảo Đ xuống xe để người đó đi đổ xăng. Đ xuống xe đứng chờ thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Số ma tuý trên Đ mua về mục đích là để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích gì khác.
Vật chứng: chất ma túy, vỏ bao gói còn lại sau giám định (0,09 gam Heroine) được niêm phong trong phong bì niêm phong số 445MT/PC09 chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên quản lý.
2
Tại bản Cáo trạng số 134/CT-VKSTN ngày 19 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố bị cáo Tòng Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Tòng Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, ngoài ra bị cáo Tòng Văn Đ khai: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Tòng Văn Đ như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tòng Văn Đại t: 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/4/2024.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Tòng Văn Đ.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 445 MT/PC09 của Phòng K - Công an thành phố H chứa chất ma tuý (0,09 gam Heroine) và vỏ bao bì còn lại sau giám định.
Về án phí: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tòng Văn Đ theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Trợ giúp viên pháp lý - Người bào chữa cho bị cáo Tòng Văn Đ:
Về tội danh, tình tiết định khung hình phạt và loại hình phạt áp dụng đối với bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Ngoài tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc dân tộc thiểu số, ở khu vực kinh tế khó khăn. Bị cáo khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp nhất đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
3
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận bị cáo có hành vi như sau: Do nghiện ma tuý nên khoảng 12 giờ 00 phút ngày 10/4/2024, Tòng Văn Đ đến khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng mua của một người đàn ông không quen biết 400.000 đồng được 0,17 gam ma túy là loại Heroine, về để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, khi bị cáo Tòng Văn Đ đi đến khu vực cây xăng trên đường C thuộc thôn D, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng thì bị bắt quả tang. Chính vì Tòng Văn Đ có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý với khối lượng trên 0,1 gam ma tuý loại Heroine nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Tòng Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố và kết luận là có căn cứ và đúng pháp luật.
- Về tình tiết định khung hình phạt:
[3] Khối lượng ma tuý mà bị cáo Tòng Văn Đ tàng trữ là 0,17 gam ma túy Heroine nên bị cáo bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố và kết luận là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Các loại tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng, gây lo lắng và bức xúc trong nhân dân. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Về nhân thân: Bị cáo Tòng Văn Đ không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Tòng Văn Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
4
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có ông ngoại là Tòng Văn É là người có công với cách mạng (được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất), là người thuộc dân tộc thiểu số và sống ở khu vực đặc biệt khó khăn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên cần áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo. Đối với tình tiết “phạm tội lần đầu”, đã được Hội đồng xét xử đánh giá tại phần nhân thân của bị cáo, đây không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận quan điểm bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý áp dụng tình tiết “phạm tội lần đầu” là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo Tòng Văn Đ.
- Về hình phạt:
[8] Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt nên Hội đồng xét xử cân nhắc khi xem xét áp dụng hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, do đó cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo và ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tính đến thời điểm phạm tội bị cáo mới 17 tuổi 05 tháng, do đó cần áp dụng Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự xem xét về hình phạt cho bị cáo.
[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên theo khoản 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Tòng Văn Đ.
- Về vật chứng:
[10] Đối với 01 phong bì niêm phong số 445 MT/PC09 của Phòng K - Công an thành phố H chứa chất ma tuý (0,09 gam Heroine) và vỏ bao bì còn lại sau giám định. Hội đồng xét xử xét: Ma túy là vật cấm lưu hành, sử dụng trái phép nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Về án phí:
[11] Bị cáo là dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khan và bị cáo đề nghị miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Do đó, căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tòng Văn Đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
5
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tòng Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tòng Văn Đ 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/4/2024.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử: Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 phong bì niêm phong số 445 MT/PC09 của Phòng K - Công an thành phố H chứa chất ma tuý (0,09 gam Heroine) và vỏ bao bì còn lại sau giám định.
(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên).
3. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tòng Văn Đ.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Bị cáo Tòng Văn Đ, người bào chữa cho bị cáo Tòng Văn Đ (có mặt tại phiên toà) được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- - Người đại diện của bị cáo Tòng Văn Đ (vắng mặt tại phiên tòa) được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
6
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hằng |
7
8
9
10
Bản án số 151/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 151/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tòng Văn Đại
