|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 151/2023/HS-ST Ngày 16-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Minh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Văn Xây
Bà Phạm Thị Hòa
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Hồng Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 143/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023, đối với các bị cáo:
-
Khúc Vĩ H, sinh ngày 26/7/1993 tại Hưng Yên; số CCCD: [...]; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; chỗ ở hiện nay: Phòng H, chung cư C, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Khúc Chí T, sinh năm 1969 và bà Vũ Thị Ánh T1, sinh năm 1971; có chồng Phan Trung H1, sinh năm 1993 và 01 con, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa từng bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/7/2023 đến nay. Có mặt.
-
Hoàng Thị D, sinh ngày 30/3/1973 tại Hưng Yên; số CCCD: [...]; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số I Chùa T, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình T2 (Đã chết) và bà Bùi Thị T3; có chồng: Nguyễn Đình H2, sinh năm 1963 và 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa từng bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật; bị bắt tạm giam từ ngày 04/8/2023 đến ngày 20/9/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đến nay. Có mặt.
-
Hoàng Thị T4, sinh ngày 16/01/1965 tại Lạng Sơn; số CCCD: [...]; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số A Chùa T, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng C (đã chết) và bà Vi Thị C1 (đã chết); có chồng: Chu Văn M, sinh năm 1961 và có 02 con, lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa từng bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/7/2023 đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
-
Bà Vũ Thị N, sinh năm 1971; địa chỉ: Số E P, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
-
Ông Đỗ Minh H3, sinh năm 1961; địa chỉ: Số E, P, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 7 năm 2023, Khúc Vĩ H quen biết một người phụ nữ (không biết tên, tuổi và địa chỉ cư trú), H và người này thống nhất: H sẽ nhận số lô đề rồi chuyển cho người này để hưởng tiền hoa hồng, người phụ nữ này cho Hằng số điện thoại 0824.549.xxx để liên lạc chuyển lô đề. Sau đó, H cùng bàn bạc, thống nhất với Hoàng Thị D và Hoàng Thị T4 về việc cùng nhau ghi số lô đề để chuyển cho người phụ nữ nêu trên để hưởng hoa hồng.
Việc ghi số đề của Khúc V cùng đồng phạm dựa trên kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng hàng ngày gồm các hình thức chơi Đề, G nhất, Ba càng (3 số), L và X (Lô xiên). Đề tính theo hai số cuối của giải đặc biệt; Giải nhất tính theo hai số cuối của giải nhất; Ba càng (3 số) tính theo ba số cuối của giải đặc biệt; Lô tính theo hai số cuối của các giải thưởng còn X gồm xiên 2, xiên 3 và xiên 4 tính theo hai số cuối của các giải thưởng tương tự như L tuy nhiên phải có đủ 2, 3 hoặc 4 cặp số người chơi đưa ra mới trúng thưởng. Thông thường, giá mỗi điểm Đề, Giải nhất, Ba càng và X tương ứng với 1.000 đồng; mỗi điểm Lô tương ứng với 23.000 đồng, tuy nhiên Giá mỗi điểm Đề, Giải nhất, Ba càng, L và X tùy theo quy ước của các bị cáo và từng cấp độ từ người chơi đến các thư ký sẽ tính giá theo phần trăm từ cao xuống thấp để hưởng lợi nhuận chênh lệch. Mỗi điểm Đ, Giải nhất trúng thưởng được 70.000 đồng; Mỗi điểm Ba càng trúng thưởng được 400.000 đồng; Mỗi điểm Xiên 2 trúng thưởng được 10.000 đồng; Xiên 3 được 40.000 đồng; Xiên 4 được 100.000 đồng; Mỗi điểm Lô trúng thưởng được 80.000 đồng. Theo quy ước, sau khi có kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết miền B, Khúc Vĩ H4 và những người chơi số đề tổng hợp thắng, thua rồi thanh toán tiền với nhau sau.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L đã làm rõ hành vi Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc bằng hình thức ghi số đề của Khúc Vĩ Hằng cùng đồng phạm cụ thể như sau:
-
Hành vi đánh bạc của Hoàng Thị T4 như sau
Ngày 14/7/2023, Vũ Thị N (sinh năm 1971, trú tại: số E P, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn) sử dụng số thuê bao 0396.850.268 nhắn tin chơi với Hoàng Thị T4 20 điểm Đề, tính với T4 800 đồng/điểm, thành tiền là 16.000 đồng; 04 điểm Lô, tính với T4 22.500 đồng/điểm, thành tiền là 90.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của N là 106.000 đồng. Toàn bộ số đề N chơi không trúng thưởng vì vậy N không hưởng lợi nhuận mà thua số tiền 106.000 đồng.
Ngày 14/7/2023, Đỗ Minh H3 (sinh năm 1961, nơi thường trú: số E Phai L, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn) sử dụng số thuê bao 0848.028.333 nhắn tin chơi với Hoàng Thị T4 90 điểm Lô, tính với T4 22.000 đồng/điểm, thành tiền là 1.980.000 đồng. Trong đó trúng thưởng 20 điểm Lô, mỗi điểm được 80.000 đồng, thành tiền là 1.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc, thắng bạc của H3 là 3.580.000 đồng. Do số tiền trúng thưởng ít hơn số tiền đánh bạc nên H3 không được hưởng lợi nhuận mà bị thua số tiền là 380.000 đồng.
- Ngày 14/7/2023, ngoài nhận số lô đề từ Vũ Thị N, Đỗ Minh H3 thì Hoàng Thị T4 còn ghi trực tiếp cho 2-3 người chơi không rõ nhân thân, tổng số 3224 điểm Đề, tính với người chơi 800 đồng/điểm, thành tiền là 2.579.200 đồng; 06 điểm Lô, tính với người chơi 22.000 đồng/điểm, thành tiền là 132.000 đồng; 750 điểm Giải nhất, tính với người chơi 800 đồng/điểm, thành tiền là 600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc đã ghi cho người chơi là 3.311.200 đồng. Trong đó người chơi trúng thưởng 05 điểm Đề, mỗi điểm được 70.000 đồng, thành tiền là 350.000 đồng; 10 điểm Giải nhất, mỗi điểm được 70.000 đồng, thành tiền là 700.000 đồng. Tổng số tiền thắng bạc của người chơi là: 1.050.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc, thắng bạc của người chơi là: 4.361.200 đồng.
- Như vậy, ngày 14/7/2023, Hoàng Thị T4 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đỏ, số thuê bao 0395.408.986 để nhận số lô đề từ Vũ Thị N, Đỗ Minh H3 và ghi trực tiếp cho người chơi với tổng số tiền đánh bạc là 5.397.200 đồng, tổng số tiền đánh bạc và thắng bạc là 8.047.200 đồng. Sau đó, T4 chuyển một phần cho Hoàng Thị D và một phần cho K Vĩ Hằng để hưởng lợi nhuận như sau:
+ Hoàng Thị T4 chuyển cho Hoàng Thị D:
Hoàng Thị T4 chuyển Hoàng Thị D 1082 điểm Đề, tính với Hoàng Thị D 725 đồng/điểm, thành tiền là 784.450 đồng; 750 điểm Giải nhất, tính với D 725 đồng/điểm, thành tiền là 543.750 đồng; 10 điểm Lô, tính với D 21.800 đồng/điểm, thành tiền là 218.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 1.546.200 đồng. Trong đó trúng thưởng 05 điểm Đề, mỗi điểm được 70.000 đồng, thành tiền là 350.000 đồng; 10 điểm Giải nhất, mỗi điểm được 70.000 đồng, thành tiền là 700.000 đồng. Tổng số tiền thắng bạc là 1.050.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc, thắng bạc chuyển cho D là 2.596.200 đồng.
+ Hoàng Thị T4 chuyển cho Khúc Vĩ H4:
Hoàng Thị T4 chuyển cho Khúc V Hằng 2162 điểm Đề, tính với H4 723 đồng/điểm, thành tiền là 1.563.126 đồng; 90 điểm Lô, tính với H4 21.730 đồng/điểm, thành tiền là 1.955.700 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là: 3.518.826 đồng. Trong đó trúng thưởng 20 điểm Lô, mỗi điểm được 80.000 đồng, thành tiền là 1.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc, thắng bạc chuyển cho H4 là 5.118.826 đồng.
2
Như vậy, tổng số tiền đánh bạc, thắng bạc mà T4 đã chuyển đi trong ngày 14/7/2023 là 7.715.026 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của Hoàng Thị T4 là: 8.047.200 đồng - 7.715.026 đồng = 332.174 đồng.
-
Hành vi tổ chức đánh bạc của Hoàng Thị D như sau
Ngày 14/7/2023, ngoài nhận số đề từ Hoàng Thị T4 như nêu trên thì Hoàng Thị D còn nhận từ 2-3 người chơi không rõ nhân thân 71025 điểm Đề, tính với người chơi 725 đồng/điểm, thành tiền là 51.493.125 đồng; 94510 điểm Giải nhất, tính với người chơi 725 đồng/điểm, thành tiền là 68.519.750 đồng; 390 điểm Lô, tính với người chơi 21.720 đồng/điểm, thành tiền là 8.470.800 đồng; 1503 điểm Ba càng, tính với người chơi 725 đồng/điểm, thành tiền là 1.089.675 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 129.573.350 đồng. Trong đó trúng thưởng 890 điểm Đề, mỗi điểm được 70.000 đồng, thành tiền là 62.300.000 đồng; 1150 điểm Giải nhất, mỗi điểm được 70.000 đồng, thành tiền là 80.500.000 đồng; 10 điểm Lô, mỗi điểm được 80.000 đồng, thành tiền là 800.000 đồng. Tổng số tiền thắng bạc là 143.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc, thắng bạc là 273.173.350 đồng.
- Hoàng Thị D nhận số đề từ người chơi sau đó chuyển cho Khúc Vĩ H4 và tự chịu thắng thua như sau:
+ Ngày 14/7/2023, Hoàng Thị D sử dụng số thuê bao 0399.362.891 nhận số đề từ Hoàng Thị T4 và 2-3 người chơi không rõ nhân thân với tổng số tiền đánh bạc, thắng bạc là 275.769.550 đồng. Sau đó, D chuyển cho H4 71025 điểm Đề, tính với H4 720,5 đồng/điểm, thành tiền là 51.173.512,5 đồng; 94510 điểm Giải nhất, tính với H4 720,5 đồng/điểm, thành tiền là 68.094.455 đồng; 390 điểm Lô, tính với H4 21.705 đồng/điểm, thành tiền là 8.464.950 đồng; 1503 điểm Ba càng, tính với H4 720,5 đồng/điểm, thành tiền là 1.082.911,5 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 128.815.829 đồng. Trong đó trúng thưởng 890 điểm Đề, mỗi điểm được 70.000 đồng, thành tiền là 62.300.000 đồng; 1150 điểm Giải nhất, mỗi điểm được 70.000 đồng, thành tiền là 80.500.000 đồng; 10 điểm Lô, mỗi điểm được 80.000 đồng, thành tiền là 800.000 đồng. Tổng số tiền thắng bạc là 143.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc, thắng bạc mà D đã chuyển cho H4 là 272.415.829 đồng.
+ Đối với số đề nhận từ Hoàng Thị T4, do sơ suất nên D chưa kịp chuyển cho H4 vì vậy phải tự chịu thắng thua. Số tiền thu lợi của D từ việc tự chịu thắng thua với T4 sẽ bằng tổng số tiền đánh bạc T4 chuyển cho D trừ đi tổng số tiền thắng bạc: 1.546.200 đồng – 1.050.000 đồng = 496.200 đồng. Số tiền thu lợi của D từ việc nhận và chuyển số đề sẽ bằng tổng số tiền đánh bạc, thắng bạc đã nhận trừ tổng số tiền đánh bạc, thắng bạc chuyển cho H4 và tự chịu thắng thua: 275.769.550 đồng – (272.415.829 đồng + 2.596.200 đồng) = 757.521 đồng.
Tổng số tiền thu lợi bất chính của D là: 1.253.721 đồng.
-
Hành vi tổ chức đánh bạc của Khúc Vĩ H4 như sau
Khúc Vĩ H4 nhận số đề từ Hoàng Thị T4 và Hoàng Thị D sau đó chuyển đi để hưởng lợi nhuận, cụ thể: Ngày 14/7/2023, Khúc Vĩ Hằng sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, số thuê bao 0354.973.124 nhận số đề từ Hoàng Thị T4, Hoàng Thị D với tổng số tiền đánh bạc, thắng bạc là 277.534.655 đồng. Sau đó, H4 chuyển đến số thuê bao 0824.549.584 của một người không rõ nhân thân 73187 điểm Đề, tính giá 715 đồng/điểm, thành tiền là 52.328.705 đồng; 94510 điểm Giải nhất, tính giá 715 đồng/điểm, thành tiền là 67.574.650 đồng; 1503 điểm Ba càng, tính giá 715 đồng/điểm, thành tiền là 1.074.645 đồng; 480 điểm Lô, tính giá 21.650 đồng/điểm, thành tiền là 10.392.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 131.370.000 đồng. Trong đó trúng thưởng: 890 điểm Đề, mỗi điểm được 70.000 đồng, thành tiền là 62.300.000 đồng; 1150 điểm Giải nhất, mỗi điểm được 70.000 đồng, thành tiền là 80.500.000 đồng; 30 điểm Lô, mỗi điểm được 80.000 đồng, thành tiền là 2.400.000 đồng. Tổng số tiền thắng bạc là: 145.200.000 đồng.
Tổng số tiền đánh bạc, thắng bạc H4 đã chuyển đi là: 276.570.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của Khúc Vĩ H4 là: 277.534.655 – 276.570.000 đồng = 964.655 đồng.
Tại Cáo trạng số 127/CT-VKS-P2 ngày 18/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Khúc Vĩ H4, Hoàng Thị D về tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hoàng Thị T4 bị truy tố về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi của mình như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn thực hiện quyền công tố, kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Khúc Vĩ H4, Hoàng Thị D phạm tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; bị cáo Hoàng Thị T4 phạm tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 50, 58, 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Khúc Vĩ H4, xử phạt bị cáo Khúc Vĩ H4 từ 24 đến 30 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng.
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 50, 58, 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Thị D, xử phạt bị cáo Hoàng Thị D từ 18 đến 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm s, i, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 50, 35 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Thị T4, xử phạt bị cáo Hoàng Thị T4 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A23 (của bị cáo H4); 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 Plus màu đỏ (của bị cáo T4), do được sử dụng để phạm tội. Truy thu sung ngân sách Nhà nước đối với bị cáo Hoàng Thị Duyên s tiền 129.573.350 đồng (một trăm hai mươi chín triệu năm trăm bẩy mươi ba nghìn ba trăm năm mươi đồng). Truy thu sung ngân sách Nhà
5
nước đối với bị cáo Hoàng Thị T4 số tiền 3.311.200 đồng (ba triệu ba trăm mười một nghìn hai trăm đồng).
Xác nhận bị cáo Hoàng Thị T4 đã nộp 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0000056 ngày 15/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng các bị cáo đều xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng và về việc thu thập tài liệu, chứng cứ của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng và việc thu thập chứng cứ, tài liệu của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt nhưng đều có đơn xin xét xử, giải quyết vắng mặt. Xét thấy, lời khai của những người vắng mặt tại cơ quan điều tra đã rõ, do đó việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, lời khai của các bị cáo thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, do đó có đủ căn cứ xác định: Ngày 14/7/2023 Khúc V, Hoàng Thị D đã có hành vi tổ chức đánh bạc là Thư ký ghi lô đề với vai trò nhận số lô đề của người chơi và chuyển lại cho người khác nhằm hưởng phần trăm lợi nhuận với số tiền đánh bạc trên 20.000.000đ (bao gồm số tiền đánh bạc chuyển đến cho thư ký khác và số tiền thắng bạc) nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi Tổ chức đánh bạc. Đối với bị cáo Hoàng Thị T4 là thư ký ghi lô đề nhưng với số tiền đánh bạc dưới 20.000.000đ nên phải chịu trách nhiệm về hành vi đánh bạc.
[4] Căn cứ Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán TANDTC, số tiền dùng đánh bạc dưới hình thức chơi số lô, đề là tiền mà người chơi đã bỏ ra để mua số lô, đề cộng với số tiền trúng thưởng. Bản chất của việc ghi số đề là hành vi tổ chức đánh bạc, tuy nhiên cần phải xác định số tiền đánh bạc của người ghi số đề để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc hay Tổ chức đánh bạc. Các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thừa nhận số tiền đánh bạc đúng như Cáo trạng đã truy tố, riêng đối với bị cáo Hoàng Thị D ngoài hành vi Tổ chức đánh bạc còn có dấu hiệu của
6
tội đánh bạc về hành vi giữ lại tự chịu thắng thua với người chơi số tiền số tiền đánh bạc, thắng bạc là 2.596.200 đồng.
[5] Số tiền đánh bạc mà các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này được xác định cụ thể như sau:
| STT | Họ và tên bị cáo | Hành vi đánh bạc (Số tiền đánh bạc) (đơn vị: đồng) |
Hành vi tổ chức đánh bạc (Số tiền đánh bạc) (đơn vị: đồng) |
|---|---|---|---|
| 1 | Khúc Vĩ Hằng | 277.534.655 | |
| 2 | Hoàng Thị Duyên | 2.596.200 | 273.173.350 |
| 3 | Hoàng Thị Thạch | 8.047.200 |
[6] Với hành vi nêu trên của các bị cáo Khúc Vĩ H4, Hoàng Thị D đã phạm vào tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Bị cáo Hoàng Thị T4 đã phạm vào tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[7] Hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu tới an ninh trật tự trên địa bàn. Các bị cáo đều biết hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm hưởng lợi nhuận thu lợi bất chính, do đó cần phải xử lý nghiêm minh các bị cáo để giáo dục và phòng ngừa chung.
[8] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng vụ án có tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn. Bị cáo Hoàng Thị T4, Hoàng Thị D nhận số lô, đề của khách rồi chuyển cho Khúc Vĩ Hằng để hưởng phần trăm lợi nhuận; bị cáo Hoàng Thị T4 cũng chuyển một phần số lô, đề cho Hoàng Thị D để hưởng lợi nhuận chênh lệch, bị cáo Khúc Vĩ H4 sau khi nhận số lô, đề từ bị cáo Hoàng Thị D và Hoàng Thị T4 thì chuyển tiếp cho người phụ nữ sử dụng số thuê bao 0824.549.584 để hưởng phần trăm lợi nhuận. Do không làm rõ được người phụ nữ này nên bị cáo Khúc Vĩ H4 phải chịu trách nhiệm với vai trò tổ chức đánh bạc chính trong vụ án và phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo Hoàng Thị D là đồng phạm giúp sức cho bị cáo Khúc Vĩ H4 trong tội tổ chức đánh bạc. Bị cáo Hoàng Thị T4 là thư ký đề, nhận bán lô, đề tư nhân rồi chuyển cho bị cáo Khúc Vĩ H4 và Hoàng Thị D nhưng số tiền bị cáo Hoàng Thị T4 đánh bạc trong cùng một lần thấp hơn mức 20.000.000 đồng nên bị cáo bị truy tố về tội Đánh bạc.
[9] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[10] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa 03 bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hoàng Thị T4 được hưởng tình tiết
7
phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình công tác trong quân đội bị cáo được tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba, Huy chương quân kỳ quyết thắng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Hoàng Thị D có bố đẻ là ông Hoàng Đình T2 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất và chồng là ông Nguyễn Đình H2 được tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang các hạng Nhất, N1, Ba; bị cáo Hoàng Thị T4 có bố đẻ là ông Hoàng C được tặng thưởng Huân chương độc lập hạng Ba, Huân chương kháng chiến hạng Nhất; bị cáo Khúc Vĩ H4 tham gia công tác từ thiện, ủng hộ quỹ vì người nghèo, tham gia nhiều lần hiến máu nhân đạo có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền vì vậy các bị cáo Hoàng Thị D, Hoàng Thị T4, Khúc Vĩ H4 được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[11] Về hình phạt chính: Từ phân tích nêu trên và xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của từng bị cáo, xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, Khúc Vĩ H4 có con bị bệnh chậm phát triển tâm thần phụ thuộc hoàn toàn người chăm sóc có xác nhận của bệnh viện N2, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để cho bị cáo Khúc Vĩ H4, Hoàng Thị D tự cải tạo tại địa phương cũng đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện tính khoan hồng của Nhà nước; bị cáo Hoàng Thị T4 phạm tội đánh bạc với số tiền không lớn và đã nộp tiền đánh bạc tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn vì vậy áp dụng phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo cũng phù hợp.
[12] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[13] Về việc xử lý vật chứng: Đối với vật chứng thu giữ của các bị cáo bao gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A23 (của bị cáo H4); 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 Plus màu đỏ (của bị cáo T4). Đây đều là công cụ, phương tiện phạm tội của các bị cáo cần tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước.
[14] Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền đánh bạc là công cụ, phương tiện phạm tội và thu lời bất chính từ việc đánh bạc tuy các bị cáo trình bày chưa thanh toán tiền cho nhau, chưa chuyển tiền cho nhau nhưng việc đánh bạc đã hoàn thành và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với việc đánh bạc nên cần truy thu để sung ngân sách Nhà nước, cụ thể: Truy thu của bị cáo Hoàng Thị Duyên s tiền 129.573.350 đồng và truy thu của bị cáo Hoàng Thị T4 số tiền 3.311.200 đồng. Xác nhận bị cáo Hoàng Thị T4 đã nộp 20.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000056 ngày 15/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
8
[15] Xét lời luận tội và mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[16] Đối với các đối tượng khác: Hành vi đánh bạc của Vũ Thị N và Đỗ Minh H3 chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã đề nghị Phòng C2 Công an tỉnh L xử phạt vi phạm hành chính và đã nộp lại tiền đánh bạc vào ngân sách Nhà nước. Đối với các đối tượng chơi trực tiếp với Hoàng Thị T4, Hoàng Thị D do không có thông tin về nhân thân nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh. Hội đồng xét xử không đề cập. Đối với số thuê bao 0824.549.584 là số điện thoại của đối tượng mà bị cáo H4 chuyển số lô đề, kết quả xác minh xác định chủ số thuê bao là Lê Xuân H5 (sinh năm 1969, địa chỉ: K phường G, thành phố Q, tỉnh Bình Định), Lê Xuân H5 đã chuyển nơi cư trú và không biết ở đâu, cơ quan điều tra chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xem xét ở vụ án khác nên Hội đồng xét xử không đề cập.
[17] Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Khúc Vĩ H4, Hoàng Thị D phạm tội Tổ chức đánh bạc. Bị cáo Hoàng Thị T4 phạm tội Đánh bạc.
-
Về hình phạt
2.1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 50, 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Khúc Vĩ H4 02 (năm) 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/11/2023.
2.2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 50, 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Thị D 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/11/2023 (bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/8/2023 đến ngày 20/9/2023).
Giao bị cáo Khúc Vĩ H4 cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Giao bị cáo Hoàng Thị D cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
9
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2.3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Thị T4 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
-
Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
3.1. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước
-
01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A23, số IMEI: 353220822304744/01; 353319902304747/01, bên trong lắp sim thuê bao 0354.973.124;
-
01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 Plus màu đỏ, số IMEI: 356572081540344, bên trong lắp sim thuê bao V1.
(Những vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, có đặc điểm như được mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn).
3.2. Về biện pháp tư pháp
-
Truy thu sung ngân sách Nhà nước đối với bị cáo Hoàng Thị Duyên s tiền 129.573.350 đồng (một trăm hai mươi chín triệu năm trăm bẩy mươi ba nghìn ba trăm năm mươi đồng).
-
Truy thu sung ngân sách Nhà nước đối với bị cáo Hoàng Thị T4 số tiền 3.311.200 đồng (ba triệu ba trăm mười một nghìn hai trăm đồng).
Xác nhận bị cáo Hoàng Thị T4 đã nộp 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0000056 ngày 15/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
-
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
-
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
10
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Huyền |
11
12
Bản án số 151/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về tổ chức đánh bạc và đánh bạc
- Số bản án: 151/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khúc Vĩ Hằng- Đánh bạc
