|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ Bản án số: 151/2024/HS-ST. Ngày: 16-8-2024. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Tố Như
- Thẩm phán: Bà Lê Thị Tân
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đầu Khắc Dinh
- Ông Nguyễn Quốc Nông
- Bà Nguyễn Thị Mai Hoa
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phạm Trí Đôn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Lê Đình Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 136/2024/TLST-HS ngày 07/12/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/QĐXXST-HS ngày 01/8/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Xuân P; Tên gọi khác: Không, sinh ngày: 15/5/1983, tại huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; Nơi ĐKNKTT: Thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: K, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Lê Xuân Đ (đã chết) và bà Đinh Thị T, sinh năm: 1956; Vợ là: Nguyễn Thị D, sinh năm: 1973; Có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2010; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/02/2024 đến ngày 05/02/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Lê Xuân P: Luật sư Trần Hoàng L; Công ty L2, Đoàn luật sư tỉnh T; Địa chỉ: SN G, T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 10/10/2014, Nguyễn Văn H gặp và quen một người phụ nữ Việt Nam chỉ biết tên là D (không rõ địa chỉ) sinh năm 1981, cùng làm việc tại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc với H. D nói với H mang 05 (năm) lạng ma túy đá về Việt Nam bán cho D, nếu bán được 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng)/lạng D sẽ trả công cho H 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng)/lạng. H đồng ý.
Đến ngày 12/10/2014, khi H về Việt Nam, H đã hẹn gặp D ở bến xe Đ, thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc mang ma túy đá của D đưa về Việt Nam bán. Khi về đến Việt Nam, H liên lạc với em trai vợ là Lê Xuân P, nhờ P xem có tìm được mối bán ma túy đá thì bán giúp cho H, P đồng ý. Sau đó, P liên lạc với Đỗ Văn T1 (tức T1 đen), sinh năm 1989 trú tại Thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa (là họ hàng bên ngoại của P) để nhờ T1 tìm mối khách bán ma túy đá ngoài Thanh Hóa cho P, T1 đồng ý. Đến khoảng ngày 16/10/2014, Trung liên lạc với P thông báo đã có người hẹn thử hàng (ma túy đá) và yêu cầu P đem ma túy ra TP. cho khách thử. P hẹn gặp H ở ngã ba Q thuộc huyện Q, tỉnh Nghệ An, tại đây H đưa cho P một gói giấy bên trong đựng một mẩu ma túy đá để P đem ra Thanh Hóa cho khách thử hàng, đồng thời nói với P được giá bán 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng)/lạng thì bán. P nhận ma túy đá từ H rồi bắt xe khách đi ra TP tỉnh Thanh Hóa để gặp Đỗ Văn T1, rồi cùng T1 đi taxi đến khu vực Hồ T thuộc TP. gặp một người nam giới mà T1 giới thiệu tên L1 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) là người đặt mua ma túy. Sau đó, P một mình xuống xe taxi, đưa ma túy cho L1 thử, người nam giới tên L1 sau khi thử ma túy xong hẹn P có gì sẽ thông qua T1 báo lại cho P biết, sau đó P quay về nhà Lê Xuân T2 (là em họ của P), sinh năm 1986 trú tại thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa để thắp hương cho bố đẻ của P (do T2 thờ cúng). Sáng ngày 17/10/2014, Trung liên lạc với P báo cho P biết chuẩn bị ma túy để sáng ngày 19/10/2014 giao dịch. P đồng ý rồi liên lạc với H bảo H mang ma túy ra Thanh Hóa để P đi giao dịch. Trưa ngày 18/10/2014, H và P gặp nhau tại quán C, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa để chờ giao dịch ma túy, nhưng P nhận được điện thoại của T1 thông báo về việc do L1 đang xoay tiền nên sẽ lùi ngày giao dịch sang tối ngày 19/10/2014, đồng thời cho P số điện thoại của L1 để chủ động liên hệ hẹn địa điểm giao hàng. Sau khi P và L1 hẹn 19 giờ 30 phút ngày 19/10/2014 sẽ gặp nhau tại phòng 308 khách sạn T3, đường L, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa để giao dịch ma túy thì H nói với P để H trực tiếp đi giao ma túy, P đồng ý rồi gọi điện cho L1 báo cho L1 biết H sẽ mang ma túy đi giao nhưng L1 nói chỉ liên lạc với số điện thoại của P, thấy L1 nói vậy P đưa điện thoại của mình cho H để L1 liên lạc. Đồng thời H và P thống nhất sau khi bán ma túy xong, mang tiền về H sẽ quay lại gặp P để bàn đến chuyện H sẽ cho P bao nhiêu tiền công giới thiệu khách mua. Khi H mang ma túy đi giao, P đã mượn điện thoại của Lê Xuân T2 (em họ) liên lạc với H nắm tình hình, nhưng khi H đến phòng 308 khách sạn T3, đường L, phường Đ, TP T chờ gặp L1 thì bị lực lượng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy bắt quả tang và thu giữ gói ma túy đá mà H đang mang đi bán. Khi không liên lạc được với H, biết H đã bị công an bắt nên P đã bỏ trốn khỏi Thanh Hóa vào TP. để vượt biên sang Trung Quốc sinh sống cho đến ngày 02/02/2024, P về Việt Nam và đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T để đầu thú và khai báo hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được.
* Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn H.
- - 01 (một) gói giấy bạc màu trắng, bên trong là một túi nilon màu trắng có viền đỏ ở mép chứa chất màu trắng dạng tinh thể.
- - 01 (một) điện thoại di động màu trắng dạng cảm ứng mặt sau có chữ Iphone thu giữ của Nguyễn Văn H; 01 (một) điện thoại di động màu đen màn hình ảm ứng mặt sau có chữ CIKAA thu giữ của Nguyễn Văn H, theo H khai nhận là máy điện thoại của Lê Xuân P.
Tại Bản kết luận giám định số 1282/PC54-MT ngày 21/10/2014 của Phòng KTHS - Công an tỉnh T), kết luận: Chất rắn màu trắng dạng tinh thể, niêm phong gửi giám định có trọng lượng 541,7 gam, qua giám định có thành phần Methamphetamine (thu khi bắt quả tang Nguyễn Văn H).
Tại Bản kết luận giám định số số 697/C54(P7) ngày 02/2/2015 của Trung tâm giám định ma túy V - Bộ C1, kết luận: hàm lượng Methamphetamine của mẫu giám định là 76%.
* Việc xử lý vật chứng: Đối với số vật chứng là ma túy đã được xử lý trong vụ án trước (tại Bản án số 57/2015/HS-ST ngày 21/7/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, đã xét xử Nguyễn Văn H).
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone màu trắng đã qua sử dụng (thu của H); 01 điện thoại di động màu đen phía sau có chữ CIKAA (theo Nguyễn Văn H khai của Lê Xuân P) Bản án số 57/2015/HS-ST tuyên quy trữ. Tuy nhiên, ngày 08/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã đề nghị Cục thi hành án hình sự tỉnh Thanh Hóa xuất 02 (hai) điện thoại quy trữ nêu trên để phục vụ công tác điều tra tuy nhiên tại Quyết định thi hành án số 90/QĐ-CTHA ngày 03/9/2015 của Cục THADS tỉnh T thể hiện đã trả lại các tài sản trên cho đương sự.
Cáo trạng số: 46/CT-VKS-P1 ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Xuân P về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm e khoản 4 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999;
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lê Xuân P phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Hình phạt chính: + Áp dụng điểm e khoản 4 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015. Tuyên phạt bị cáo Lê Xuân P 20 (hai mươi) năm tù.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Xuân P có quan điểm: Về tội danh và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thống nhất với Viện kiểm sát. Đề nghị HĐXX cho bị cáo P được hình phạt như mức án VKS đề nghị và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Lời nói sau cùng, bị cáo nhận tội, không tranh luận, xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1].Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên. VKSND tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan Điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Các kết luận giám định, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 13 giờ 30 phút ngày 02/02/2024, Lê Xuân P đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đầu thú và khai nhận đã có hành vi đồng phạm cùng Nguyễn Văn H bị bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy vào ngày 19/10/2014, tại phòng 308 khách sạn T3, đường L, phường Đ, TP .. Trọng lượng ma túy thu giữ là 541,7 gam, hàm lượng Methamphetamine là 76%, tương đương trọng lượng ma túy P phải chịu trách nhiệm hình sự là 411,69gam Methamphetamine.
Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo Lê Xuân P là đặc biệt nghiêm trọng đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước nên cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Căn cứ Điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội, áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội; Khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự 1999. HĐXX nhận thấy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Lê Xuân P đã cấu thành tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.
- [3]. Về tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo Lê Xuân P là đặc biệt nghiêm trọng và rất nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đều nhận thức rõ tác hại của ma túy, và hình phạt đối với các hành vi phạm tội ma túy rất nghiêm khắc, vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây tác hại nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm nên phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy, cần phải xét xử nghiêm khắc trước pháp luật mới có tác dụng trừng trị, răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, nhất là đối với các loại tội phạm về ma túy đang gây bức xúc trong giai đoạn hiện nay.
- [4]. Về động cơ, mục đích, nguyên nhân và điều kiện phạm tội của bị cáo: Bản thân bị cáo cùng giúp sức cho Nguyễn Văn H mục đích bán ma túy để kiểm lời.
- [5]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và đồng phạm, mẹ bị cáo có thời gian tham gia kháng chiến tại Campuchia được Ban chấp hành Trung ương, Hội C2 tặng Kỷ niệm chương nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015.
- [6]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Xét thấy, mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên được HĐXX chấp nhận.
- [7]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội nhưng được hưởng lợi, chưa thu lợi bất chính, hoàn cảnh gia đình bịc áo khó khăn, bản thân bị cáo bị bệnh hiểm nghèo nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị của Viện kiểm sát áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 251 BLHS nên được HĐXX chấp nhận.
- [8]. Việc xử lý đối tượng liên quan đến vụ án: Người phụ nữ người Việt Nam tên là D hiện đang làm việc tại Trung Quốc bán ma túy cho Nguyễn Văn H vào ngày 10/10/2014, bị cáo P không biết rõ họ tên, nơi cư trú ở đâu, việc mua bán ma túy chỉ có H biết. Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xác minh làm rõ và xử lý trách nhiệm hình sự đối với người phụ nữ Việt Nam tên D nêu trên nên sẽ tách tài liệu liên quan để xử lý trong một vụ án khác khi có đủ căn cứ.
- [9]. Về xử lý vật chứng: Đối với số vật chứng là ma túy đã được xử lý trong vụ án trước (tại Bản án số 57/2015/HS-ST ngày 21/7/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, đã xét xử Nguyễn Văn H).
- - Đối với 01 điện thoại di động Iphone màu trắng đã qua sử dụng (thu của H); 01 điện thoại di động màu đen phía sau có chữ CIKAA (theo Nguyễn Văn H khai của Lê Xuân P) Bản án số 57/2015/HS-ST tuyên quy trữ. Tuy nhiên, ngày 08/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã đề nghị Cục thi hành án hình sự tỉnh Thanh Hóa xuất 02 (hai) điện thoại quy trữ nêu trên để phục vụ công tác điều tra tuy nhiên tại Quyết định thi hành án số 90/QĐ-CTHA ngày 03/9/2015 của Cục THADS tỉnh T thể hiện đã trả lại các tài sản trên cho đương sự.
- [10]. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- [11]. Bị cáo được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm e khoản 4 Điều 194; Khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; Các Điều 331; 333; 336; 337 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTV- QH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân P phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Vê hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Xuân P 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 02/02/2024.
Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Xuân P phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thị Tố Như |
Bản án số 151/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 151/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
