|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 151/2024/HNGĐ-ST Ngày 12/9/2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoàn và bà Nguyễn Thị Kim Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 285/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 223/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Hoàng N, sinh năm 1981; thường trú: Tổ G, ấp C, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Trần Thị Thu V, sinh năm 1978; thường trú: Số A, Tổ B, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; tạm trú: Số D, đường G, Quảng Trường X, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 7 năm 2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Lê Hoàng N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Hoàng N và chị Trần Thị Thu V có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 1 năm và được sự đồng ý của gia đình thì tiến đến hôn nhân có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận kết hôn số 88/2008 ngày 26/5/2008. Sau khi kết hôn thì chung sống ở thành phố B một thời gian thì chuyển về Dĩ An sinh sống từ năm 2022 đến đầu năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp thường xuyên cãi nhau bất đồng quan điểm sống khiến hôn nhân trở nên căng thẳng, không hạnh phúc. Chị V không đồng ý cùng anh N về quê sinh sống để chăm sóc cha mẹ già nên anh chị đã ly thân hơn 1 năm. Dù đã nhiều lần hòa giải nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh N yêu cầu ly hôn với chị V.
Về con chung: Có con chung tên Lê Minh T, sinh ngày 26/10/2011 hiện con chung đang ở với chị V. Sau khi ly hôn anh N đồng ý giao con chung cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng, anh N không cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai bổ sung đề ngày 06/9/2024, anh N đồng ý cấp dưỡng con chung 2.500.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 30/7/2024 và trong suốt quá trình tố tụng bị đơn chị Trần Thị Thu V trình bày: Chị V và anh Lê Hoàng N có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 2-3 năm thì tiến đến hôn, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn kết hôn số 88/2008 theo Giấy đăng ký kết hôn số 88/2008 ngày 26/5/2008 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Sống hạnh phúc được khoảng 3-4 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh N không quan tâm, phụ giúp chăm lo con cái, anh chị đã ly thân khoảng 2 năm nay. Nay anh N yêu cầu ly hôn thì chị V cũng đồng ý.
Về con chung: Chị V là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn, yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con 2.500.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/8/2024 chị V khai trong thời gian sống ly thân, anh N về quê chăm sóc ba bị bệnh, thời gian đó chị V và ông N có thỏa thuận vay tiền của ba chị V là ông Trần Văn C 80.000.000 đồng để sinh hoạt trong gia đình và chăm sóc con chung. Chị V đề nghị ông N phải trả ½ số tiền trên tức 40.000.000 đồng, tuy nhiên tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nợ chung nếu có tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
- Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị V và anh N do Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tiến hành ngày 16/8/2024, Hội Liên hiệp phụ nữ phường Đ, thành phố D cung cấp thông tin như sau: Hội Liên hiệp phụ nữ phường không nhận được đơn đề nghị hòa giải hôn nhân giữa anh Lê Hoàng N và chị Trần Thị Thu V, đồng thời cũng không tiếp nhận phản ánh từ địa phương về mâu thuẫn giữa hai anh chị, do đó không biết rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị và cũng không biết tình trạng chăm sóc con của anh chị như thế nào.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:
Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Bị đơn và nguyên đơn thống nhất tất cả vấn đề.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, căn cứ Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 107 và Điều 110 Luật Hôn nhân gia đình 2014, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Hoàng N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn anh Lê Hoàng N và chị Trần Thị Thu V có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Hoàng N và chị Trần Thị Thu V là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận kết hôn số 88 quyển số 01/2008 ngày 26/5/2008 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Anh N và chị V xác định quá trình chung sống với nhau vợ chồng chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau, anh chị đã sống ly thân hơn 1 năm. Anh N và chị V không thể hiện ý chí mong muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Chứng tỏ tình cảm vợ chồng anh chị không thể hàn gắn, mục đích của cuộc hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu ly hôn của anh N là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Anh N và chị V thống nhất giao con chung Lê Minh T, sinh ngày 26/10/2011 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng. Xét, cháu T bị rối loạn tăng động – rối loạn hoạt động và chú ý, cháu T còn nhỏ nên cần sự quan tâm chăm sóc từ mẹ, cháu T có mong muốn tiếp tục sống với mẹ. Vì vậy, việc giao con chung cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn là có căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị V yêu cầu anh N phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 2.500.000đ/tháng. Xét, nghĩa vụ nuôi con chung là thuộc về cha, mẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân gia đình quy định: “cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Sau khi xem xét nhu cầu thiết yếu của con chung ở độ tuổi chưa thành niên nhận thấy chị V và anh N thỏa thuận cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.500.000 đồng/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[6] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[7] Về án phí: Anh Lê Hoàng N phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 228, 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 55, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Hoàng N về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con với chị Trần Thị Thu V.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Hoàng N được ly hôn với chị Trần Thị Thu V (Giấy chứng nhận kết hôn số 88 quyển số 01/2008 do UBND phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 26/5/2008).
1.2. Về con chung: Anh Lê Hoàng N giao con chung tên Lê Minh T, sinh ngày 26/10/2011 cho chị Trần Thị Thu V trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lê Hoàng N thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.500.000 đồng. Thời hạn cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung Lê Minh T đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Sau khi ly hôn anh N, chị V phải tạo điều kiện cho nhau trong việc chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
1.3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Hoàng N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001151 ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Anh Lê Hoàng N phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật/.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Trung Hiếu |
Bản án số 151/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 151/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa ông Lê Hoàng Nước và bà Trần Thị Thu Vân
