Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI BÈ

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 151/2024/HNGĐ-ST

Ngày 12/6/2024

V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Lê Quế Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Văn Dũng;

Ông Trần Trung Nhân.

– Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Luân– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Trong ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 60/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

– Nguyên đơn: Anh Hồ Hiền P, sinh năm: 1991; (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

– Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Kim X, sinh năm: 1990; (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

– Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Hồ Hiền P trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị Kim X chung sống với nhau vào năm 2020, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 02 ngày 10/01/2023. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cự cãi, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Anh và chị X đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị X.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Hồ Minh Đ, sinh ngày 30/3/2022, hiện cháu Đ đang sống với mẹ là chị X và ông bà nội. Khi ly hôn, anh P đồng ý giao con chung là cháu Đ cho chị X nuôi dưỡng, anh P không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

– Bị đơn chị Nguyễn Thị Kim X dù được tống đạt đầy đủ văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt và không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn anh Hồ Hiền P có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn chị Nguyễn Thị Kim X dù được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh P và chị X.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét thấy, anh P yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn và nuôi con với chị X nên đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn chị X có nơi cư trú tại huyện C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, anh P và chị X kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 02 ngày 10/01/2023 nên là hôn nhân hợp pháp. Anh P cho rằng anh và chị X chung sống hạnh phúc đến giữa năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cự cãi, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Anh và chị X đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, anh P cương quyết xin ly hôn, còn chị X thì không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng không có ý kiến gì về việc anh P xin ly hôn với chị. Từ đó cho thấy chị X đã không yêu thương, quan tâm và không có ý định hàn gắn tình cảm cũng như mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh P.

[4] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Hồ Minh Đ, sinh ngày 30/3/2022, hiện cháu Đ đang sống với mẹ là chị X và ông bà nội. Khi ly hôn, anh P đồng ý giao con chung là cháu Đ cho chị X nuôi dưỡng, anh P không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, sau khi ly thân chị X là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Đ khỏe mạnh và ổn định cho đến nay. Ngoài ra cháu Đ hiện dưới 36 tháng tuổi, cần được mẹ quan tâm chăm sóc. Vì vậy việc giao con chung là cháu Đ cho chị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định pháp luật và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu.

Anh Hồ Hiền P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị X không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu sau này có yêu cầu thì khởi kiện bằng vụ án khác.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Anh P trình bày không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung, chị X không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Anh P phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hồ Hiền P.

Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Hồ Hiền P được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim X.

Về con chung: Giao con chung tên Hồ Minh Đ, sinh ngày 30/3/2022 cho chị Nguyễn Thị Kim X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Anh Hồ Hiền P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

2. Về án phí: Anh Hồ Hiền P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Anh P đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0014948 ngày 20/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Vậy anh P đã thi hành xong án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh Hồ Hiền P, bị đơn chị Nguyễn Thị Kim X có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Cái Bè;
  • - CCTHADS huyện Cái Bè;
  • - Ủy ban nhân dân xã Xuân Đông, H. Chợ Gạo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Lê Quế Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2024/HNGĐ-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 151/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: anh P xin ly hôn chị X
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger