|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
|
Bản án số: 151/2025/HS-ST. Ngày: 27/10/2025. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Cảnh.
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Văn Phước.
+ Bà Nguyễn Thị Ngọc Đẹp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh- Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Bình- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai với hình thức trực tuyến, tại hai điểm cầu:
Điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai gồm: Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án.
Điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam khu vực L gồm: Bị cáo, Thư ký, Cán bộ chiến sỹ thuộc nơi giam giữ đối với vụ án hình sự thụ lý số: 100/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo:
Đặng Văn T, sinh năm: 1982. Tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, ấp A, xã L, tỉnh Đồng Nai; CMND/CCCD/Hộ chiếu số: [...]; Cấp ngày 20/8/2021; Nơi cấp: Cục cảnh sát Quản lý hành chính về TTXH; nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ú (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ ngày 07/8/2025. (Có mặt)
- Bị hại: Chị Bùi Thị Kim N, sinh năm: 2006
CCCD số [...], cấp ngày 15/8/2021; Nơi cấp: Cục cảnh sát Quản lý hành chính về TTXH.
Địa chỉ: Ấp G, xã A, tỉnh Đồng Nai.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 17 giờ 20 phút ngày 04/8/2025, Đặng Văn T cùng với T1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) ngồi quán gần Q1 thuộc ấp C, xã L, tỉnh Đồng Nai thì thấy chị Bùi Thị Kim N để chiếc điện thoại di động Iphone 14 promax, 128GB trên kệ phía sau quầy pha chế. Lợi dụng lúc chị N đang dọn dẹp, T đi vào quán trộm cắp chiếc điện thoại của chị N rồi quay lại chỗ T1, nhờ T1 chở đi bán lấy tiền tiêu xài. T1 đồng ý, T1 điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở T đến cửa hàng Đ1 do Nguyễn Quốc H làm chủ thuộc xã N, tỉnh Đồng Nai, bán được số tiền 4.000.000 đồng, T mua lại 01 chiếc điện thoại hiệu Goly với giá 480.000 đồng nhưng không dùng được nên T đã cho một người đi đường (không rõ lai lịch), T chia cho T1 2.000.000 đồng, số tiền còn lại T tiêu xài hết. Đến ngày 07/8/2025, T bị bắt giữ.
Tại Kết luận giám định số: 180/KL- HĐĐGTS ngày 15/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 14 ProMax, dung lượng 128GB, số Imei: 353751254859375 có giá trị 15.800.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 08/CT-VKSKV2 ngày 08 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai đã truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội danh, khung hình phạt như luật áp dụng như Cáo trạng đã nêu, đồng thời đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn T mức án từ 16 (Mười sáu) đến 18 (Mười tám) tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn T khai nhận. Vào lúc 17 giờ 20 phút ngày 04/8/2025, lợi dụng lúc chị N không để ý, bị cáo T đã lén lút vào phía sau quầy pha chế trộm cắp 01 điện thoại di động Iphone 14 ProMax của chị N rồi đem bán lấy tiền tiêu xài. Đến ngày 07/8/2025 bị cáo bị bắt giữ. Lời khai nhận của bị cáo trùng khớp lời khai ban đầu, lời khai bị hại cùng các chứng cứ khác được thu thập có tại hồ sơ vụ án.
Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương.
Xuất phát từ động cơ tư lợi, bị cáo thực hiện hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình, thực hiện một cách lén lút và đã thực hiện trót lọt tội phạm. Do đó, mức án bị cáo nhận lãnh phải nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
[3] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ:
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo mới phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với phần trình bày của bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa.
Đối với tên T1 là người chở T đi bán điện thoại. Hiện, chưa xác định được nhân thân, lai lịch Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh để làm rõ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Quốc H, chủ cửa hàng mua bán điện thoại Văn D, khi mua điện thoại của T, H không biết tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và có căn cứ pháp luật nên chấp nhận.
[4] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đảm bảo, phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng Hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ.
[5] Biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự: Chị N đã trả cho anh Nguyễn Quốc H, chủ cửa hàng mua bán điện thoại số tiền 4.000.000 đồng, để nhận lại điện thoại do bị cáo T mang bán và chị N có yêu cầu bị cáo T phải bồi thường số tiền trên. Tại phiên tòa, bị cáo T đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 4.000.000 đồng.
[6] Về án phí:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo Đặng Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 269, Điều 298, Điều 299, Điều 326, Điều 327, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
1- Về hình phạt:
Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn T 01 (Một) năm 02 (hai) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 07/8/2025.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đặng Văn T phải bồi thường cho bị hại chị Bùi Thị Kim N số tiền 4.000.000 (Bốn triệu) đồng.
2- Về án phí:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đặng Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3- Quyền kháng cáo: Bị cáo Đặng Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN TÒA |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN |
|
Nguyễn Văn Phước Nguyễn Thị Ngọc Đ |
Nguyễn Tấn C |
Bản án số 151/2025/HS-ST ngày 27/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 151/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1 năm 2 tháng tù và bồi thường 4000000đ
