|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 151/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30/6/2025.
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Vy và ông Nguyễn Nhân Phái.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hiền, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 76/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025, về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/6/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1985; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố A, thị trấn L, huyện P, thành phố H; địa chỉ: Số F, ngách C, đường H, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn O, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn L, huyện P, thành phố H, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị T đề ngày 15/04/2025 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh O quen biết nhau tại thành phố Hồ Chí Minh, nảy sinh tình cảm và sau đó tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 11/8/2005 tại UBND phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Quá trình chung sống với nhau được một thời gian thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng hay cãi nhau, không tôn trọng lẫn nhau. Anh O thường xuyên đánh đập chị T, chơi bời nhậu nhẹt không quan tâm đến gia đình. Ngoài ra, anh O còn quản lý tiền bạc của chị T dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hòa thuận nên chị T đã phải bỏ nhà đi nhiều lần. Vợ chồng sống ly thân từ ngày 08/12/2023 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau, cuộc sống của ai tự người đó lo liệu, vợ chồng không thể hàn gắn được với nhau nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn O.
Về con chung: Chị T và anh O có 02 người con chung là Nguyễn Hoàng Văn T1, sinh ngày 08/12/2006 và Nguyễn Hoàng Văn L, sinh ngày 18/8/2011. Cháu Nguyễn Hoàng Văn T1 đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu L ở với anh O nên chị T yêu cầu Toà án giao cháu L cho anh O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị T không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn O trình bày ý kiến như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh O và chị T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 11/8/2005 tại UBND phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh như chị T trình bày. Quá trình chung sống, vợ chồng không có mâu thuẫn gì đáng kể. Anh O không biết vì lý do gì mà vợ lại bỏ nhà đi từ tháng 12/2023 cho đến nay. Anh O thừa nhận cũng có đánh đập vợ nhiều lần nhưng chỉ có một lần hơi nặng tay nên chị T bị sưng mặt. Anh O đánh chị T do khi anh O nói thì chị T xưng “mi”, anh O không chịu được nên đã đánh vợ. Anh O có quản lý chi tiêu của chị T vì chị T không biết quản lý tiền bạc. Khi chị T bỏ đi, anh O có đi tìm thì chị T đã viết đơn ly hôn nhưng anh O không đồng ý ký vì lý do chị T viết sai ngày sinh của con. Khi sống chung, chị T ham mê cờ bạc, anh O cũng có khuyên nhủ nhưng chị T không nghe. Anh O không đồng ý ly hôn vì muốn con cái có đầy đủ cha mẹ.
Về con chung: Anh O và chị T có 02 người con chung như chị T trình bày. Hiện nay cháu T1 đã trên 18 tuổi và đã đi học nghề nên anh O không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn cháu L đang ở với anh O nên anh O có nguyện vọng được nuôi con. Anh O không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh O không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- - Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ của bị đơn.
- - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị T ly hôn với anh O và giao người con chung là Nguyễn Hoàng Văn L, sinh ngày 18/8/2011 cho anh Nguyễn Văn O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị Hoàng Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Hoàng Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và qua thẩm tra tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228, 236 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo đúng quy định.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Văn O tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 11/8/2005 tại UBND phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh O là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Xét về quá trình hôn nhân giữa chị T và anh O, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình sống chung, giữa chị T và anh O đã xảy ra nhiều mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng, tin tưởng nhau, anh O đã nhiều lần đánh đập chị T khiến chị T phải bỏ về nhà cha mẹ đẻ. Mặc dù đã các bên đã tự hòa giải nhưng vợ chồng vẫn không khắc phục được mâu thuẫn. Chị T và anh O đã sống ly thân từ 08/12/2023 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau, cuộc sống mỗi người tự lo liệu. Anh O không đồng ý ly hôn nhưng cũng không đưa ra được phương án để khắc phục mâu thuẫn. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh O đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T, không chấp nhận yêu cầu đoàn tụ vợ chồng của anh O.
[3] Về con chung: Chị T và anh O có 02 người con chung là Nguyễn Hoàng Văn T1, sinh ngày 08/12/2006 và Nguyễn Hoàng Văn L, sinh ngày 18/8/2011. Đối với người con chung là cháu T2, hiện đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với cháu Nguyễn Hoàng Văn L đang do anh O chăm sóc và có nguyện vọng ở với anh O. Anh O cũng có nguyện vọng nuôi con. Do vậy, cần giao cháu L cho anh Nguyễn Văn O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp, đồng thời đảm bảo sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần của cháu L.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nhưng anh O không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí sơ thẩm: Chị Hoàng Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39, Điều 147, Điều 227; Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn O.
- Về việc nuôi con chung: Giao người con chung Nguyễn Hoàng Văn L, sinh ngày 18/8/2011 cho anh Nguyễn Văn O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Chị Hoàng Thị T không cấp dưỡng nuôi con.
Chị Hoàng Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định pháp luật.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Hoàng Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số 000 2070 ngày 22/4/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phú Lộc, thành phố H. Chị T đã nộp đủ.
- Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phương Thảo |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 151/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 151/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn